1. Nguồn lực lao động trong phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay
Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện để phát huy nguồn lực lao động. Vì vậy, những năm gần đây nguồn lực lao động nước ta đã phát triển cả về số lượng, chất lượng, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (năm 2011) khẳng định: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước”1. Quan điểm này đánh dấu bước phát triển trong nhận thức của Đảng về vai trò của nhân tố con người trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đảng ta coi phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (năm 2016) tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao, thông qua quan điểm: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu”2. Trên cơ sở đó, Đại hội xác định một trong những đột phá chiến lược cần đặc biệt chú trọng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện là: Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ: “Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực, với những giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực trong nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất kinh doanh, chú trọng nâng cao tính chuyên nghiệp và kỹ năng thực hành”3.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (năm 2021) tiếp tục xác định: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo”4 là một trong ba đột phá chiến lược. Đại hội cũng đặt ra yêu cầu: “Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)”5. Đây là chủ trương hết sức đúng đắn, thể hiện tư duy, tầm nhìn mới của Đảng ta về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời kỳ mới.
Một trong những nội dung được xác định để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước được đề cập trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng: Phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới, trọng tâm là nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Tiếp tục đổi mới phương thức quản lý xã hội và quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; giải quyết tốt các chính sách xã hội đối với các tầng lớp dân cư, nhất là các đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế, lực lượng lao động trong khu vực phi chính thức, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Như vậy, có thể thấy đây là quan điểm nhất quán, tiến bộ của Đảng ta về phát huy vai trò của nguồn lực lao động tác động.
Việc phát triển nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay có nhiều lợi thế, cụ thể:
Một là, quy mô nhân lực cả nước tiếp tục được nâng lên, chất lượng nhân lực ngày càng được cải thiện và nâng cao; nhận thức của các cấp, ngành và xã hội về vai trò, tầm quan trọng của phát triển nhân lực đối với sự phát triển quốc gia ngày càng được nâng cao; trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực không ngừng được nâng cao. Tỷ lệ đã qua đào tạo nói chung của lực lượng lao động tăng nhiều so với các năm trước.
Hai là, công tác đào tạo nhân lực có những thay đổi theo hướng tập trung nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, nhiều cơ sở đào tạo đã chủ động triển khai một số ngành, nghề đáp ứng thị trường lao động, như: Trường Đại học FPT, Trường Cao đẳng FPT Polytechnic, Trường Cao đẳng nghề Việt - Đức... triển khai đào tạo một số ngành nghề có nhu cầu cao trên thị trường lao động hiện đại, như: thiết kế website, lập trình máy tính - thiết bị di động, công nghệ thông tin - ứng dụng phần mềm...
Việc đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy ở các bậc học; cải cách chế độ tiền lương cho đội ngũ giáo viên/giảng viên và ưu đãi cho người học; xây dựng hệ thống quốc gia đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục và đào tạo... đang được các bộ, ngành tích cực triển khai. Việc đổi mới chính sách sử dụng nhân lực bước đầu đạt được một số kết quả như chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, trọng dụng nhân lực, nhân tài trong khu vực nhà nước đang từng bước áp dụng theo cơ chế thị trường.
Ba là, công tác nghiên cứu khoa học cũng được chú trọng, đồng thời phát triển được một đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ. Nhiều nhà kinh tế, cán bộ khoa học của Việt Nam tiếp cận được với nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại của thế giới; nhiều công nhân, lao động Việt Nam thông qua xuất khẩu lao động và các chuyên gia nước ngoài có điều kiện tiếp cận được với những máy móc thiết bị hiện đại và tác phong lao động công nghiệp.
Bốn là, nguồn nhân lực nước ta được tiếp thu truyền thống lịch sử của đất nước: cần cù, siêng năng, chịu khó, yêu lao động. Người lao động Việt Nam được đánh giá là thông minh, cần cù, khéo léo, có trình độ dân trí, học vấn khá cao so với mức thu nhập quốc dân, tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ của thế giới. Đây là lợi thế so sánh có ý nghĩa đối với nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình tham gia hội nhập quốc tế.
Bên cạnh đó, công tác phát triển nguồn nhân lực Việt Nam vẫn còn nhiều rào cản đáng kể. Cụ thể:
Một là, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam còn nhiều hạn chế và có khoảng cách khá lớn so với các nước trong khu vực; năng suất lao động đang ở mức thấp so với nhiều nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Indonesia... Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa quan tâm đúng mức đến kỹ năng xã hội, kỹ năng sống và khả năng tự học, kỹ năng sáng tạo...”6.
Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; phát triển giáo dục và đào tạo, còn gặp nhiều khó khăn, tình trạng sinh viên tốt nghiệp ra trường không tìm được việc làm còn tương đối phổ biến. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của các cấp, các ngành, toàn xã hội còn chưa thống nhất, nhiều nơi còn đánh đồng giữa việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao với đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao. Một số nhiệm vụ đổi mới giáo dục và đào tạo triển khai còn chậm, lúng túng, hiệu quả thấp; hệ thống trường lớp phân bổ chưa hợp lý, một số nơi còn thiếu, xuống cấp. Việc đào tạo một số ngành nghề đặc thù còn khó khăn; chưa có cơ chế đặt hàng đào tạo đối với một số ngành, lĩnh vực, đối tượng.
Do vậy, việc thiết kế, ban hành, thực thi cơ chế, chính sách của một số cơ quan, tổ chức nhìn chung còn cứng nhắc, rập khuôn.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam còn yếu về chất lượng, thiếu năng động và sáng tạo. Chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố nguồn nhân lực theo vùng, miền, địa phương chưa thực sự phù hợp với nhu cầu sử dụng, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội. Đội ngũ nhân lực chất lượng cao, công nhân lành nghề còn thiếu so với nhu cầu xã hội để phát triển các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam, nhất là để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng như nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị đó. Đánh giá này cũng phù hợp với nhận định của nhiều chuyên gia trong nước: chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam thấp và có khoảng cách lớn với các nước trong khu vực.
Hai là, Việt Nam còn thiếu nhiều lao động lành nghề, nhân lực qua đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động và doanh nghiệp về tay nghề và các kỹ năng mềm khác; cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực không hợp lý. Hiện nay, nguồn nhân lực ở nước ta phần lớn là lao động giản đơn, trong khi vẫn phải nhập khẩu nguồn lao động có trình độ cao từ nước ngoài để làm các công việc mà lao động Việt Nam không thể đảm nhận.
Ba là, số lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, thậm chí nhóm có trình độ chuyên môn cao có khuynh hướng hiểu biết lý thuyết tương đối tốt, nhưng lại kém về năng lực thực hành và khả năng thích nghi trong môi trường cạnh tranh công nghiệp; do đó cần có thời gian bổ sung hoặc đào tạo bồi dưỡng để sử dụng hiệu quả.
Bốn là, một bộ phận lớn người lao động hiện nay chưa được tập huấn về kỷ luật lao động công nghiệp, kỹ năng làm việc nhóm, tính chuyên nghiệp. Năng lực sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp và làm việc của nguồn nhân lực còn hạn chế. Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc, thiếu khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng chế và chia sẻ kinh nghiệm làm việc, năng suất lao động còn thấp so với nhiều nước trong khu vực và thế giới. Mặt khác, đáng lo ngại là năng suất lao động của Việt Nam có xu hướng tăng chậm hơn so với các nước đang phát triển trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia.
Năm là, năng lực đào tạo của một số cơ sở còn hạn chế, vẫn đào tạo theo cách thức, phương pháp cũ. Chưa có nhiều doanh nghiệp và nhà trường thiết lập được cơ chế hợp tác trong đào tạo nhân lực, từ việc nắm bắt nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp, hướng nghiệp cho học sinh, thiết kế, hoàn thiện chương trình, phương pháp giảng dạy, đến tổ chức thẩm định kết quả đào tạo.
2. Một số giải pháp thúc đẩy phát triển nguồn lực lao động ở Việt Nam
Sự dịch chuyển tất yếu từ số hóa đơn giản (Cách mạng công nghiệp lần thứ ba) sang sự sáng tạo dựa trên sự kết hợp giữa các công nghệ (Cách mạng công nghiệp lần thứ tư) đang đặt mỗi quốc gia trước yêu cầu phải từng bước hoàn thiện để thích nghi. Đối với Việt Nam, để sẵn sàng và chủ động trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần có sự phối kết hợp mạnh mẽ giữa khoa học và công nghệ đối với các lĩnh vực trong xã hội và phải có những giải pháp mang tính then chốt, đột phá. Để nguồn lực lao động Việt Nam phát triển thích ứng trong bối cảnh hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã chỉ rõ: “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao”7. “Tăng cường quản lý nhà nước về nguồn nhân lực, gắn kết cung - cầu. Thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu lao động, tạo điều kiện hỗ trợ dịch chuyển lao động và phân bố lao động hợp lý, hiệu quả”8. Với quan điểm đổi mới vai trò của Nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực, cần tập trung: (i) Đổi mới vai trò quản lý nhà nước về định hướng và điều tiết phát triển nguồn nhân lực; (ii) Hoàn thiện các căn cứ pháp lý trong quản lý nhà nước về nguồn nhân lực; (iii) Đổi mới sự can thiệp của Nhà nước trong cung cấp dịch vụ công cho phát triển nguồn nhân lực; (iv) Nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nguồn nhân lực nhằm tăng cường kiểm tra, giám sát sự phát triển và chất lượng của dịch vụ công; (v) Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý nguồn nhân lực.
Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo”9 là một trong ba đột phá chiến lược.
Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng tiếp tục đề cập: “Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của hệ thống chính trị thực sự tiêu biểu, nhất là những người đứng đầu, có đủ phẩm chất, năng lực, tư duy mới, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước”10.
Hai là, chủ động hội nhập quốc tế để phát triển nguồn nhân lực Việt Nam.
Mở cửa hội nhập về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia tham gia thực chất vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc tế trên nền tảng giáo dục đại học - đào tạo và nghiên cứu, “đi tắt đón đầu” trong việc nắm bắt nhu cầu của những lĩnh vực ứng dụng công nghệ mới, thu hút và trọng dụng nhân tài, tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy khởi nghiệp.
Các doanh nghiệp Việt Nam cần kết nối vào các chuỗi giá trị của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để tạo ra nhu cầu cao hơn với lực lượng lao động, từ đó thúc đẩy động lực cho giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ phát triển.
Tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, nhất là khoa học và công nghệ cao trong điều kiện hội nhập quốc tế. Đa dạng hóa đối tác, lựa chọn đối tác chiến lược là các quốc gia có nền khoa học và công nghệ tiên tiến; gắn hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Đồng thời, phát triển mạng lưới kết nối nhân tài người Việt Nam, thu hút sự tham gia đóng góp của cộng đồng các nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài.
Ba là, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng mở, hội nhập, xây dựng xã hội học tập, phát triển toàn diện năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp luật và trách nhiệm công dân.
Trong thời gian qua, giáo dục đại học ở Việt Nam có xu hướng quá chú trọng đến các ngành như kinh tế, tài chính, ngân hàng... khiến nhu cầu học các ngành này tăng cao, trong khi đó học sinh theo học các ngành khoa học và công nghệ lại có xu hướng giảm. Tuy nhiên, nhu cầu tuyển dụng lao động đối với một số ngành thuộc nhóm công nghệ, kỹ thuật, cơ khí và các ngành liên quan đến toán học (STEM) ngày càng lớn, đặc biệt trong làn sóng khởi nghiệp ở lĩnh vực công nghệ hiện nay. Bởi vậy, cần đổi mới căn bản hệ thống giáo dục và đào tạo, trong đó gắn giáo dục và đào tạo với hoạt động thực tiễn, đề cao tinh thần làm chủ, thúc đẩy văn hóa khởi nghiệp, có định hướng rõ rệt ưu tiên về chính sách và các nguồn lực cho các ngành STEM. Kinh nghiệm của các quốc gia đi trước cho thấy, cần tạo dựng văn hóa sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp cho giới trẻ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hình thành ý chí tự thân lập nghiệp để sẵn sàng cho tương lai.
Để thực hiện giải pháp này, Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: (i) Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống sách giáo khoa và chế độ thi cử ở các cấp học cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn; (ii) Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; đa dạng hóa các hình thức học tập, như học trực tuyến, qua internet, truyền hình, các hoạt động xã hội, nghiên cứu khoa học; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội; (iii) Sắp xếp lại hệ thống trường học; phát triển hài hòa giữa giáo dục công lập và giáo dục ngoài công lập, giữa các vùng, miền, ưu tiên các vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo và các đối tượng chính sách; (iv) Tăng cường đầu tư cho giáo dục và đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó đầu tư từ ngân sách nhà nước cần tăng lên, đồng thời huy động hiệu quả sức dân thông qua đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, xây dựng xã hội học tập; (v) Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, hoàn thiện chính sách phát triển các cơ sở đào tạo ngoài công lập, thực hiện cơ chế tự chủ đối với đào tạo bậc đại học phù hợp với xu thế chung của thế giới; hình thành mô hình hợp tác công - tư trong đào tạo đại học. Sắp xếp, quy hoạch lại các trường đại học, cao đẳng11.
Bốn là, tập trung triển khai đột phá về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại; gắn liền đồng bộ với xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển; đẩy mạnh đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo động lực then chốt nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của nền kinh tế.
Để tham gia vào kỷ nguyên công nghiệp kết hợp với kỹ thuật số, người lao động cần phải có trình độ cao. Sự chậm trễ trong phát triển và đổi mới khoa học, công nghệ không chỉ hạn chế khả năng thu hút đầu tư mà còn có thể dẫn tới thụt lùi so với nhiều nước trên thế giới. Để thực hiện tốt giải pháp này, Đại hội XIII của Đảng yêu cầu thực hiện tốt bốn biện pháp cụ thể: (i) Chú trọng phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị; đồng thời tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; (ii) Cùng với rà soát, sắp xếp lại hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ gắn với đổi mới toàn diện chính sách nhân lực khoa học và công nghệ, thực hiện tốt chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng và đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, nhất là chuyên gia đầu ngành, nhân tài trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Tăng cường đầu tư phát triển khoa học và công nghệ theo cơ chế thị trường trên cơ sở huy động hợp lý nguồn lực từ Nhà nước, doanh nghiệp và các cá nhân. Hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu phát triển, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; (iii) Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, nhất là cơ chế tài chính, nhằm giải phóng năng lực sáng tạo của nhà khoa học, đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, đời sống. Tăng cường liên kết giữa các tổ chức khoa học và công nghệ với doanh nghiệp.
Năm là, bảo đảm nguồn lực tài chính cho phát triển nguồn nhân lực.
Đẩy mạnh xã hội hóa để tăng cường huy động các nguồn vốn cho phát triển nguồn nhân lực. Nhà nước cần có cơ chế, chính sách huy động các nguồn vốn của người dân đầu tư và đóng góp cho phát triển nguồn nhân lực bằng các hình thức: trực tiếp đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục, đào tạo, hình thành các quỹ hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực. Mở rộng các hình thức tín dụng ưu đãi cho các cơ sở giáo dục, đào tạo và cho học sinh, sinh viên để học nghề, học đại học, cao đẳng, hỗ trợ người lao động học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ.
Tạo cơ chế phù hợp để thu hút các nguồn vốn nước ngoài cho phát triển nguồn nhân lực Việt Nam; sử dụng hiệu quả các nguồn vốn của nước ngoài hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực (ODA); thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cho phát triển nguồn nhân lực; tăng cường hiệu quả, đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển nhân lực.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 41.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 90.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 116.
4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 203-204, 232-233.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 70.
7, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 295, 297.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 203-204.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr. 63.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 233.