1. Nghệ thuật “trọng đức” trong trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trong bất kỳ thời đại nào, việc phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài luôn là yếu tố then chốt, quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong di sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại, nghệ thuật trọng dụng nhân tài là một nội dung có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, trong đó nghệ thuật “trọng đức” được xem là nguyên tắc cốt lõi. Việc nhận diện rõ giá trị này không chỉ góp phần làm sáng tỏ di sản Hồ Chí Minh, mà còn là kim chỉ nam cho công tác cán bộ của Đảng, nhất là đáp ứng nhiệm vụ đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thì yêu cầu về xây dựng, sử dụng đội ngũ cán bộ có đủ đức, đủ tài càng trở nên cấp thiết.
Trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “đạo đức là gốc, là nền tảng” của người cán bộ cách mạng. Từ tiếp thu và phát triển tinh thần đạo lý phương Đông, đặc biệt là tư tưởng Nho giáo về lấy đức làm gốc, đồng thời kết hợp với tinh thần dân chủ phương Tây, nhất là lý luận Mác - Lênin về đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác lập những quan điểm về đạo đức cách mạng rất độc đáo, sáng tạo. Theo Người, cán bộ là người lãnh đạo và là người đày tớ trung thành của nhân dân, do vậy, đức là điều kiện tiên quyết để bảo đảm cho cán bộ phục vụ lợi ích công. Kinh nghiệm thực tiễn của cách mạng Việt Nam, thực tiễn đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chế độ mới đã cho thấy, nhiều cán bộ, đảng viên dù chưa có trình độ học vấn cao, nhưng có đạo đức cách mạng kiên trung, nên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ngược lại, có những người từng là trí thức nổi tiếng nhưng vì thiếu đạo đức, chạy theo danh lợi cá nhân mà đánh mất lý tưởng cách mạng. Từ thực tiễn đó, Người đã rút ra nguyên tắc trong trọng dụng nhân tài là: lựa chọn, bố trí, sử dụng cán bộ phải lấy đạo đức làm gốc. Đó chính là nghệ thuật “trọng đức” trong trọng dụng nhân tài của Người.
Một là, coi trọng đạo đức cách mạng là tiêu chuẩn hàng đầu.
Ngay từ những năm đầu của sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ vai trò cốt lõi của đạo đức đối với người cách mạng. Mở đầu tác phẩm Đường cách mệnh (năm 1927), Người đã nêu lên các phẩm chất đạo đức cần có của người cách mạng: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất. Bí mật”1. Theo Người, đạo đức cách mạng không chỉ là phẩm hạnh cá nhân, mà còn là nguyên tắc sống còn, là nền tảng để thực hiện lý tưởng và nhiệm vụ cao cả của người cán bộ, đảng viên. Người nhiều lần nhấn mạnh rằng “đức là gốc” của người cách mạng. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”2. Theo đó, đạo đức không chỉ là tiêu chí đánh giá phẩm chất cá nhân, mà còn là tiêu chuẩn đầu tiên trong việc lựa chọn, trọng dụng người tài đáp ứng với nhu cầu của cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người”3. Luận điểm này của Người thể hiện tư tưởng xuyên suốt, đó là đạo đức không thể tách rời tài năng, nhưng đạo đức phải được đặt lên hàng đầu, bởi nếu người có tài mà thiếu đức, không có lý tưởng phụng sự, không có tinh thần trách nhiệm với dân tộc, thì tài năng đó có thể bị sử dụng sai mục đích, thậm chí gây ra hậu quả nghiêm trọng cho đất nước. Trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng tìm kiếm, phát hiện và trọng dụng nhân tài. Tuy nhiên, điều Người quan tâm trước hết vẫn là phẩm chất đạo đức của người đó. Người từng ví công tác cán bộ của Đảng như việc “trồng cây”, muốn cây tốt phải chọn giống tốt, tức là người cán bộ trước hết phải có đức. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, đạo đức không phải là điều gì cao siêu, mà là những phẩm chất gần gũi như: trung thực, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, khiêm tốn, đoàn kết, có trách nhiệm với công việc và nhân dân.
Hai là, gắn đạo đức với trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không lý tưởng hóa đạo đức như một giá trị hình thức, mà luôn xem đạo đức là hành vi sống gắn bó mật thiết với trách nhiệm chính trị - xã hội của người cán bộ. Theo Người, đức không nằm ở lời nói mà nằm ở hành động cụ thể - hành động phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước một cách vô tư, trung thực và hiệu quả. Người cán bộ có đức là người biết lo trước cái lo của dân, vui sau cái vui của dân; luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân. Vì vậy, "đức" trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn gắn chặt với tinh thần phụng sự - không vị kỷ, không quan liêu, không xa rời thực tiễn. Người từng nói: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”4. Điều đó được thể hiện rõ qua tấm gương đạo đức sáng ngời của Người trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng. Là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước và dân tộc, song Người luôn sống giản dị, hòa mình với nhân dân, từ ăn mặc, đi lại đến phong cách làm việc. Bằng lối sống và sự gương mẫu, cùng nhãn quan chính trị sắc bén trong lựa chọn, trọng dụng cán bộ có đức, có tài, Người đã góp phần đặt nền móng cho việc gây dựng nên lớp cán bộ trung kiên, suốt đời hy sinh phấn đấu cho Đảng, Tổ quốc và dân tộc. Những học trò xuất sắc của Người như: Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng… đều là những cán bộ tiêu biểu về đạo đức. Qua đó, đã chứng minh rằng, đạo đức không chỉ là lời răn dạy người khác, mà phải là giá trị sống được thực hành trong mọi hoàn cảnh. Người tài mà có đức thì mới toàn tâm, toàn ý phục vụ đất nước.
Ba là, đánh giá đúng đạo đức qua thực tiễn công tác và cống hiến.
Nét độc đáo trong nghệ thuật “trọng đức” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cách Người đánh giá đạo đức không dựa vào lời nói, bằng cấp hay hoàn cảnh xuất thân, mà thông qua hành vi cụ thể, thái độ làm việc, hiệu quả công tác và sự phản hồi từ nhân dân. Theo Người, để biết một người có đạo đức hay không, cần nhìn vào hành động của họ đối với quần chúng. Đó là cách đánh giá vừa khách quan, vừa thực tiễn. Người không đánh giá cán bộ qua hình thức bề ngoài, mà qua mức độ cống hiến, tinh thần trách nhiệm và lòng trung thành trong công việc, bởi Người quan niệm, rèn luyện đạo đức là một quá trình phấn đấu suốt đời, không phải là thứ được gắn sẵn ngay từ đầu. Do vậy, Người khuyến khích tự phê bình và phê bình, xem đó là cách để người cán bộ tự sửa mình, nâng cao đạo đức. Bên cạnh đó, Người rất coi trọng việc kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ luôn gắn liền với đời sống thực tiễn - nơi họ tiếp xúc với nhân dân, đối diện với khó khăn, thách thức để thể hiện bản lĩnh chính trị.
Bốn là, khoan dung, vị tha với người có tài nhưng từng bị sai lầm, nếu họ có đức phục thiện.
Một nét đặc sắc và nhân văn trong nghệ thuật “trọng đức” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự khoan dung đối với những người từng sai lầm nhưng biết hối cải và có khả năng đóng góp cho cách mạng. Theo Người, đạo đức không phải là tiêu chuẩn “tĩnh”, mà là quá trình vận động, hoàn thiện. Một người từng có lỗi nhưng biết sửa chữa, phục thiện thì vẫn có thể được trọng dụng. Chính từ quan điểm đó, Người đã thu phục và sử dụng được nhiều trí thức lớn từng đứng ngoài Đảng, miễn là họ có tâm huyết với dân tộc. Những nhân vật như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Trần Huy Liệu… được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời giữ trọng trách trong Chính phủ lâm thời, không chỉ vì tài năng mà còn vì sự chuyển hóa về nhận thức, nhất là đức hy sinh, cống hiến cho đất nước và nhân dân và dân tộc. Sự khoan dung đó của Người được thực hành nhất quán trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong 24 năm trên cương vị Chủ tịch nước. Trong quá trình đó, Người không tuyệt đối hóa quá khứ, không định kiến cá nhân, mà luôn tìm kiếm điểm mạnh, sự thiện chí và khả năng cống hiến trong mỗi con người làm điểm tương đồng để hướng tới quy tụ, tập hợp và bố trí, sử dụng nhân tài cho đất nước.
Năm là, kết hợp hài hòa giữa đức và tài trong sử dụng cán bộ.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, "đức" và "tài" là hai mặt không thể tách rời trong nhân cách của người cán bộ. Tuy nhiên, Người luôn đặt "đức" lên trên, bởi lẽ đạo đức sẽ định hướng cho tài năng phục vụ đúng mục tiêu cách mạng. Nhưng điều đó không có nghĩa là chỉ cần đức mà không cần tài. Do đó, Người yêu cầu phải đào tạo, bồi dưỡng để mỗi người “có đức” cũng “có tài” và phục vụ hiệu quả nhất cho cách mạng. Người khẳng định: “Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong, đều tùy chỗ mà dùng được”5. Điều đó có nghĩa rằng, nếu cán bộ chưa toàn diện thì nhiệm vụ của tổ chức là bồi dưỡng, huấn luyện họ, không nên vội vứt bỏ. Sự kết hợp giữa "đức" và "tài" được thể hiện rõ trong các chỉ đạo ban hành chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo đó, Người chủ trương cử cán bộ đi học, bố trí luân chuyển, giao việc khó để thử thách cán bộ và phát hiện năng lực của cán bộ. Qua đó, người cán bộ không chỉ rèn luyện về kiến thức, mà còn rèn luyện phẩm chất đạo đức, lý tưởng sống và tinh thần kỷ luật.
2. Định hướng vận dụng nghệ thuật “trọng đức” trong trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước
Nghệ thuật “trọng đức” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong trọng dụng nhân tài được chính Người và Đảng ta hiện thực hóa trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Điều này góp phần tạo nên đội ngũ cán bộ trung kiên, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nghệ thuật “trọng đức” trong trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận giúp Đảng ta hoạch định đường lối xây dựng đội ngũ cán bộ và bố trí, sử dụng cán bộ, nhất là xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược của Đảng và Nhà nước. Từ thực tiễn lịch sử và những yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế trên cơ sở các quyết sách của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật… nhằm phát triển bền vững đất nước theo hướng tăng trưởng xanh và dựa trên khoa học, công nghệ hiện đại, đòi hỏi nhân tài vừa có tri thức toàn diện, hiện đại, vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng. Từ bối cảnh mới của đất nước, có thể khẳng định, nghệ thuật “trọng đức” trong trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị trong định hướng vận dụng lựa chọn, bố trí, sử dụng nhân tài hiệu quả, đáp ứng mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc ở nước ta.
Thứ nhất, xây dựng hệ tiêu chí đánh giá nhân tài, trong đó lấy “đức” là nền tảng, “tài” là điều kiện phát huy.
Từ nghệ thuật “trọng đức” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước bối cảnh mới của đất nước, nhất là mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, văn minh, hạnh phúc, thách thức lớn nhất không nằm ở thiếu người tài giỏi, mà là làm sao phát hiện, tuyển chọn và sử dụng được những người “có tâm với nước, có trách nhiệm với dân”. Việc xây dựng hệ tiêu chí đánh giá nhân tài phải cụ thể hóa nội dung “trọng đức” thành các phạm trù có thể kiểm chứng, như: trung thành với lợi ích quốc gia - dân tộc; liêm, chính, chí công vô tư; không lợi dụng chức trách vì mục đích cá nhân; đi đầu trong thực hành trách nhiệm xã hội; tôn trọng pháp luật và chuẩn mực công vụ; có tinh thần phụng sự và khát vọng cống hiến. Khi “đức” được chuẩn hóa thành thước đo cụ thể, việc tuyển chọn và sử dụng nhân tài mới thoát khỏi tính hình thức hoặc cảm tính, đồng thời hạn chế được sự lẫn lộn giữa “năng lực thực chất” và “hiện tượng giả danh tài năng”.
Thứ hai, đổi mới cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm nhân tài theo tinh thần “lấy đức làm gốc”.
Những thành công trong nghệ thuật “trọng đức” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là “lựa chọn đúng”, “dụng nhân như dụng mộc” và trước thực tế hiện nay còn những hạn chế trong công tác cán bộ bắt nguồn từ cơ chế tuyển chọn còn thiên về bằng cấp, quan hệ hoặc đề bạt nội bộ thiếu minh bạch, việc đổi mới cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm nhân tài phải bắt đầu từ việc đưa tiêu chí đạo đức lên hàng đầu trong đề bạt, quy hoạch, bổ nhiệm và sử dụng nhân tài. Theo đó, các quy trình tuyển chọn cần chuyển từ “chọn người trong số đã có” sang “sàng lọc những trường hợp thiếu phẩm chất”, từ “trao quyền” sang “giao trách nhiệm”, từ “kiểm tra hồ sơ” sang “kiểm soát năng lực và đạo đức qua thực tiễn”. Đổi mới cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm nhân tài không chỉ ở thi tuyển hay đánh giá công khai, mà còn là đưa yếu tố đạo đức vào từng vòng đánh giá với cơ chế bảo đảm, bảo chứng và giám sát xã hội, để cán bộ có đức phải được bảo vệ, người suy thoái phải bị loại bỏ.
Thứ ba, xây dựng văn hóa liêm chính, nêu gương và trách nhiệm trong toàn hệ thống chính trị.
Một trong những nội dung đặc sắc của nghệ thuật “trọng đức” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng môi trường nuôi dưỡng và bảo vệ, phát huy đạo đức nhân tài. Trong môi trường của đời sống chính trị, kinh tế - xã hội hiện nay, sự tha hóa cán bộ, lợi ích nhóm do rơi vào chủ nghĩa cá nhân đều có thể làm suy giảm đạo đức công vụ nếu thiếu cơ chế kiểm soát. Do đó, định hướng từ nghệ thuật “trọng đức” của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải song hành với việc kiến tạo văn hóa tổ chức trong sạch, minh bạch, dân chủ, có cơ chế khích lệ và bảo vệ người liêm chính. Khi chuẩn mực đạo đức được tôn trọng và trở thành “văn hóa làm việc”, nhân tài có đức mới thực sự có môi trường phát huy.
Thứ tư, kết hợp giữa “trọng đức” với đào tạo và phát triển tài năng phù hợp yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới.
Vận dụng nghệ thuật “trọng đức” vào trọng dụng nhân tài hiện nay phải gắn đào tạo tài với bồi dưỡng đạo đức, gắn chuyên môn với lý tưởng, khát vọng đóng góp, trải nghiệm thực tiễn và tinh thần phục vụ. Đặc biệt, đối với đội ngũ trí thức trẻ, việc giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức công vụ và trách nhiệm cộng đồng không thể tách rời đào tạo chuyên môn. Khi đó, người có đức mới có thể phát huy tài một cách bền vững, tài năng mới trở thành “chính tài” mà không bị lệch hướng thành “tà tài”.
Thứ năm, gắn “trọng đức” với kiểm soát quyền lực, phòng ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và lợi dụng chức vụ, quyền hạn.
Trong điều kiện hiện nay, tình trạng suy thoái đạo đức trong đội ngũ cán bộ công quyền do thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả vẫn đang diễn biến phức tạp. Vì vậy, định hướng vận dụng nghệ thuật “trọng đức” phải thể hiện rõ ở cơ chế ràng buộc đạo đức với chức vụ, nhiệm vụ và quyền hạn. Không thể chỉ chọn người có đức ở đầu vào, mà phải kiểm soát liên tục việc giữ gìn đạo đức trong suốt quá trình cống hiến của cán bộ, công chức, viên chức. Minh bạch tài sản, trách nhiệm giải trình, giám sát quyền lực, xử lý vi phạm nghiêm minh và loại bỏ những cá nhân “có tài nhưng tha hóa”.
Thứ sáu, bảo đảm động lực vật chất, tinh thần và vị thế xã hội cho nhân tài có tâm huyết, trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân.
Trong bối cảnh cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay, nếu không bảo đảm điều kiện phát triển, ghi nhận xứng đáng, tạo cơ hội cống hiến và bảo vệ danh dự người liêm chính, thì nghệ thuật “trọng đức” sẽ thiếu sức sống. Đãi ngộ ở đây không chỉ là lương, thưởng, mà còn là sự ghi nhận, cơ hội phát triển, môi trường làm việc, niềm tin xã hội và cơ chế bảo vệ trước những cản trở, công kích hoặc định kiến. Theo đó, “trọng đức” phải đi đôi với bảo đảm tốt các điều kiện cả về vật chất và tinh thần; khích lệ người có đức, biến đạo đức thành giá trị được bảo vệ và khen thưởng.
Nghệ thuật “trọng đức” trong trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh là giá trị cốt lõi, thấm đẫm tính nhân văn, mang tầm chiến lược, được chính Người và Đảng ta hiện thực hóa trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đem lại thắng lợi to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, nhất là qua 40 năm đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh mới hiện nay, nghệ thuật “trọng đức” trong trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, soi sáng việc hoàn thiện tiêu chí, quy trình, chính sách tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và đãi ngộ nhân tài đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nhằm mục tiêu xây dựng, phát triển nước ta hùng cường, văn minh, hạnh phúc.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 2, tr. 280.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 292.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 399.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 623.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 88.