1. Cơ sở lý luận, thực tiễn của việc bổ sung nội dung đấu tranh phòng, chống bệnh quan liêu cùng với phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng
Việc bổ sung nội dung đấu tranh phòng, chống bệnh quan liêu cùng với phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng trước hết xuất phát từ yêu cầu nhận diện đúng bản chất quyền lực trong điều kiện Đảng cầm quyền. Quan liêu không chỉ là một tập quán hành chính chậm chạp, rườm rà, mà còn là biểu hiện của sự xa rời nhân dân, của trạng thái quyền lực tách khỏi lợi ích công và cơ chế giám sát xã hội. Khi quan liêu tồn tại như một “lớp nền” trong bộ máy, mọi nỗ lực chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực dù quyết liệt đến đâu cũng mới chỉ xử lý "phần nổi của tảng băng", còn các điều kiện sinh ra sai phạm vẫn nguyên vẹn. Về mặt lý luận, điều đó có nghĩa là muốn xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh thì không thể chỉ giới hạn phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở phạm vi xử lý hành vi cá nhân, mà phải mở rộng sang xử lý cả môi trường thể chế, quy trình, văn hóa công vụ vốn dung dưỡng, hợp thức hóa các hành vi đó. Về mặt kỹ thuật quản trị, việc đưa nội dung chống quan liêu vào cùng cấu phần với chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong Dự thảo thể hiện cách tiếp cận hệ thống, coi việc cắt bỏ các điều kiện sinh ra sai phạm là trọng tâm, chứ không chỉ dừng ở việc tăng nặng chế tài xử phạt.
Trong lịch sử hình thành và phát triển của học thuyết Mác - Lênin, C.Mác và Ph.Ăngghen tuy chưa xây dựng một học thuyết chuyên biệt về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong bối cảnh chưa có đảng cộng sản cầm quyền, chưa hình thành nhà nước chuyên chính vô sản ổn định, nhưng các ông đã đặt nền tảng tư tưởng cho yêu cầu giữ đảng của giai cấp vô sản trong sạch, vững mạnh và kiểm soát quyền lực vì nhân dân. Nghiên cứu bộ máy nhà nước tư sản, các ông chỉ ra xu hướng tha hóa của quyền lực khi tách khỏi sự kiểm soát của quần chúng, đồng thời nhấn mạnh nguy cơ một bộ phận quan chức trở thành tầng lớp đặc quyền xa lạ với lợi ích của số đông. Trên cơ sở đó, vấn đề không chỉ là thiết kế một nhà nước mới, mà còn là xây dựng một kiểu đảng cầm quyền mới, biết tự kiểm soát mình, biết phòng ngừa sự tha hóa ngay trong nội bộ. Chính nền tảng tư tưởng này là cơ sở để thế hệ sau, trước hết là V.I.Lênin, phát triển cách tiếp cận tích hợp, coi đấu tranh chống quan liêu gắn liền với phòng, chống tiêu cực là điều kiện sống còn đối với một đảng cộng sản khi đã trở thành đảng cầm quyền.
Trong điều kiện đảng cộng sản nắm chính quyền, V.I.Lênin là người phát triển sâu sắc nhất mạch tư duy về kiểm soát quyền lực gắn với phòng, chống quan liêu và tiêu cực. Ông coi tiêu cực là sản phẩm trực tiếp của sự tha hóa quyền lực, trong đó quan liêu là môi trường nuôi dưỡng thuận lợi nhất, vì ở đó thông tin bị bóp méo, phản hồi từ cơ sở bị suy giảm, quyền lực tập trung nhưng không được giám sát hiệu quả. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, V.I.Lênin đã cảnh báo: “Hiện giờ có ba kẻ thù chính đang đứng trước mỗi người, bất kể người đó làm việc gì, ở cương vị nào… kẻ thù thứ nhất - tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa; kẻ thù thứ hai - nạn mù chữ; kẻ thù thứ ba - nạn hối lộ”1 và nhấn mạnh ranh giới sinh tử của chế độ: “Nếu có cái gì sẽ làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó (tệ quan liêu, tham nhũng)2. “Tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa” khiến cán bộ xa dân, xem nhẹ ý kiến, nhu cầu của quần chúng; “nạn mù chữ” không chỉ là thiếu chữ nghĩa, mà còn là hạn chế về trình độ hiểu biết thực tiễn và quy luật phát triển; “nạn hối lộ” là biểu hiện tập trung của tham nhũng. Ba mối đe dọa này kết hợp với nhau trong môi trường quan liêu sẽ tạo ra vòng xoáy tiêu cực nếu không được kiểm soát bằng thiết chế phù hợp.
Trên phương diện thiết chế, V.I.Lênin xem trục thanh tra, kiểm tra, giám sát là “gân cốt” của kiểm soát quyền lực, là cơ chế để phát hiện sớm dấu hiệu tha hóa, quan liêu, tiêu cực. Theo ông, nếu làm đúng và làm đều, hệ thống đó sẽ “chống chủ nghĩa quan liêu, nhằm mở rộng dân chủ, phát huy óc sáng kiến, nhằm phát hiện, lột mặt nạ và đuổi ra khỏi đảng những kẻ lén lút chui vào đảng”3. Từ quan điểm đó có thể suy ra các hệ quả mang tính quy tắc: phải ràng buộc trách nhiệm cá nhân qua cơ chế giải trình theo từng vụ việc và theo định kỳ; phải chuẩn hóa quy trình ra quyết định dựa trên bằng chứng chứ không dựa trên cảm tính; phải thiết lập công khai dữ liệu ở mức độ đủ để giám sát xã hội có thể hoạt động thực chất; phải vận hành hệ thống chế tài đủ mạnh để thanh lọc đội ngũ, răn đe hành vi lạm dụng quyền lực. Khi đặt nội dung chống quan liêu vào cùng cấu phần với chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong Dự thảo, Đảng không chỉ bổ sung một cụm từ, mà thực chất là tiếp thu một cách có chọn lọc tinh thần đó, coi việc thiết kế và vận hành “hàng rào thể chế” là giải pháp trung tâm để giữ Đảng và chế độ trong sạch, vững mạnh.
Kế thừa và vận dụng sáng tạo những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bổ sung khái quát lý luận rất cô đọng, trực diện về tham ô, lãng phí, quan liêu. Ở tầng định danh, Người nêu rõ: “Tham ô là lấy của công làm của tư”4. Định nghĩa ngắn gọn này chỉ rõ bản chất phản nhân dân, phản đạo đức cách mạng của hành vi tham ô, khi biến của công, của Nhân dân thành của riêng. Ở tầng nguyên lý, Người chỉ ra mối quan hệ sinh thành: “Bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô. Kinh nghiệm chứng tỏ rằng: ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó chắc chắn có tham ô, lãng phí; nơi nào bệnh quan liêu càng nặng thì nơi đó càng nhiều lãng phí, tham ô. Cho nên, muốn triệt để chống tham ô, lãng phí thì phải kiên quyết chống nguồn gốc của nó là bệnh quan liêu”5. Như vậy, quan liêu không chỉ đứng cạnh tham ô, lãng phí như một hiện tượng song hành, mà còn giữ vai trò nguyên nhân, là “đất sống” để lãng phí, tham ô phát triển. Nếu không đánh vào quan liêu, các biện pháp chống tham ô, lãng phí về lâu dài sẽ chỉ xử lý được hệ quả, không chạm đến căn nguyên. Từ đó có thể thấy, việc đưa nội dung đấu tranh phòng, chống bệnh quan liêu vào Dự thảo không phải là mở rộng tùy tiện phạm vi, mà là quán triệt nhất quán tư tưởng Hồ Chí Minh về trị bệnh từ gốc.
Đặt trong khuôn khổ xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, các mệnh đề lý luận nói trên dẫn tới kết luận nhất quán rằng chống quan liêu phải được thể chế hóa như một cấu phần bắt buộc của cụm nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Thể chế hóa ở đây không chỉ dừng lại ở tuyên bố về mặt chính trị tư tưởng, mà cần được cụ thể hóa thành quy định, quy trình, chuẩn mực, công cụ áp dụng trong thực tế. Điều này đòi hỏi thiết kế những cơ chế vận hành gắn chặt với kiểm soát quyền lực, với nghĩa vụ giải trình bắt buộc của cá nhân và tập thể, với công khai dữ liệu ở mức có thể kiểm chứng, với văn hóa nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Khi các yêu cầu đó được chuyển hóa thành quy định cụ thể, có chế tài đủ mạnh, có thước đo đánh giá và được vận hành một cách kiên trì, nội dung chống quan liêu trong Dự thảo mới thật sự trở thành công cụ quản trị chứ không dừng ở khẩu hiệu.
Thực tiễn những năm gần đây cho thấy công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã tạo ra xung lực mới, năng lực phát hiện và xử lý tăng lên, kỷ luật, kỷ cương được củng cố, niềm tin xã hội từng bước phục hồi. Nhiều vụ việc tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, kéo dài đã được đưa ra ánh sáng, xử lý nghiêm, kể cả với cán bộ giữ chức vụ cao. Tuy nhiên, ngay bên dưới bề mặt thành tích ấy vẫn tồn tại một “lớp nền” quan liêu dai dẳng trong toàn bộ chu trình chính sách, từ khâu xây dựng, ban hành đến tổ chức thực hiện và giám sát. Lớp nền này thể hiện ở thói quen xử lý công việc nặng về hình thức, ở sự trì trệ, chậm trễ, ở tâm lý né tránh trách nhiệm, sợ sai, sợ va chạm. Nếu không được nhận diện và xử lý một cách hệ thống, lớp nền quan liêu đó sẽ làm suy giảm hiệu quả của các biện pháp chống tham nhũng, khiến việc xử lý sai phạm chủ yếu mang tính phản ứng sau khi hậu quả đã xảy ra.
Những biểu hiện cụ thể của bệnh quan liêu trong thực tiễn có thể nhận thấy khá rõ. Đó là tư duy an toàn, né tránh trách nhiệm khi ra quyết định, dẫn đến tình trạng “đẩy” việc lên nhiều cấp, nhiều tầng, không ai dám chịu trách nhiệm cuối cùng. Đó là thiết kế tổ chức chồng chéo, phối hợp lỏng lẻo, làm cho cùng một nội dung nhưng nhiều cơ quan cùng tham gia, vừa tốn nguồn lực, vừa khó quy trách nhiệm. Đó là thủ tục rườm rà làm phát sinh cơ chế xin cho và giấy tờ ngoài quy định, khiến người dân, doanh nghiệp phải “chạy” nhiều nơi mới hoàn thành một công việc. Đó là lối báo cáo hình thức, nặng về thành tích, ít dám nêu đúng, nêu đủ những hạn chế, yếu kém. Đó là tình trạng công khai chưa thực chất, thông tin phân tán, dữ liệu không liên thông, gây khó khăn cho cả kiểm soát nội bộ và giám sát bên ngoài. Những “nút thắt” này không chỉ làm giảm hiệu lực thực thi chính sách, mà còn tạo ra “vùng mờ” thuận lợi để hành vi vụ lợi ẩn náu dưới vỏ bọc “đúng quy trình”, khiến việc phát hiện, xử lý trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
Kinh nghiệm quản trị ở nhiều quốc gia và chính ngay trong thực tiễn Việt Nam cho thấy phương châm “không thể, không dám, không muốn, không cần tham nhũng” chỉ phát huy tối đa tác dụng khi đồng thời bịt các “cửa” quan liêu. Nếu thủ tục không được tinh gọn, dữ liệu không được mở, trách nhiệm giải trình của người đứng đầu không được quy định rõ ràng, hiệu ứng răn đe sẽ suy giảm vì cơ chế phát hiện chậm, bằng chứng khó xác lập, chi phí vi phạm thấp. Ngược lại, khi thủ tục được thiết kế theo hướng minh bạch, đơn giản, có thời hạn xử lý cụ thể; khi dữ liệu được công khai ở định dạng dễ truy cập, dễ sử dụng; khi nghĩa vụ giải trình trở thành bắt buộc trong mọi quyết định quan trọng; khi kênh phản hồi của người dân, doanh nghiệp được vận hành với thời hạn trả lời rõ ràng, thì lợi ích nhóm khó định hình, động cơ vụ lợi suy yếu. Bối cảnh chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính hiện nay càng làm nổi rõ yêu cầu đó, với ba chuẩn mực cốt lõi: quyết định dựa trên bằng chứng, minh bạch theo thời gian thực, giám sát xã hội có công cụ và có thời hạn phản hồi bắt buộc.
Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn, việc bổ sung nội dung đấu tranh phòng, chống bệnh quan liêu cùng với phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng là một yêu cầu tất yếu. Nội dung này không chỉ giúp nhận diện đầy đủ hơn các nguyên nhân sinh ra sai phạm trong bộ máy, mà còn định hướng cho việc thiết kế các công cụ thể chế cụ thể để phòng ngừa từ sớm, từ xa.
2. Phương hướng nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống bệnh quan liêu cùng với phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIVcủa Đảng
Để đấu tranh phòng, chống bệnh quan liêu thực sự trở thành một cấu phần hữu cơ của phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, Dự thảo cần định hướng theo các nhóm giải pháp mang tính hệ thống, vừa xử lý căn nguyên thể chế, vừa cải thiện quy trình vận hành, vừa tác động vào văn hóa công vụ và cơ chế giám sát xã hội. Trên tinh thần đó, có thể tập trung vào bốn phương hướng lớn sau:
Một là, hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình trong Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị đối với phòng, chống bệnh quan liêu.
Mục tiêu cốt lõi của phương hướng này là khép kín các khoảng trống của quyền lực ngay từ khâu thiết kế, bảo đảm mọi thẩm quyền đều được ràng buộc bởi pháp luật, chuẩn mực đạo đức công vụ và cơ chế giám sát nhiều tầng. Cần định danh rõ quan liêu như một hành vi vi phạm kỷ luật công vụ, có tiêu chí nhận diện, thang đo mức độ và chế tài tương ứng, chấm dứt tình trạng coi quan liêu chỉ là khuyết điểm về phong cách làm việc. Quy trình ra quyết định phải được chuẩn hóa dựa trên bằng chứng, gắn với đánh giá tác động chính sách bắt buộc, có cơ chế phản biện độc lập để hạn chế mệnh lệnh cảm tính. Về thực thi, cần liên thông kỷ luật Đảng với kỷ luật hành chính, trách nhiệm dân sự và hình sự; mọi quyết định quan trọng phải kèm hồ sơ giải trình ngắn gọn, dễ kiểm chứng, được lưu trữ và công bố ở định dạng dễ tiếp cận. Đồng thời, cần ban hành quy chế chuẩn mực ra quyết định với quy định rõ phạm vi công khai, thời hạn, thước đo đầu ra, vận hành bộ chỉ số kiểm soát quyền lực theo dõi mức độ tuân thủ công khai bắt buộc, tỷ lệ quyết định có giải trình kèm bằng chứng, tỷ lệ khắc phục kiến nghị, tỷ lệ phát hiện và xử lý xung đột lợi ích, mức giảm chồng chéo thanh tra. Để tránh hình thức, các chỉ báo phải được tinh giản, quy trình giải trình phải được số hóa toàn trình, dữ liệu phải mở cho nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, báo chí giám sát, đi đôi với tăng cường kiểm tra đột xuất và đánh giá độc lập định kỳ.
Hai là, cải cách thủ tục hành chính, chuẩn hóa quy trình công vụ và số hóa toàn trình nhằm phòng, chống bệnh quan liêu từ khâu vận hành.
Thực hiện phương châm này nhằm xóa bỏ cơ chế "xin - cho" ngay ở khâu thiết kế thủ tục, chuyển từ vận hành dựa trên mệnh lệnh sang vận hành dựa trên bằng chứng và thời hạn cụ thể. Mỗi thủ tục phải xác định rõ đầu vào, đầu ra, trách nhiệm cá nhân, thời hạn xử lý, cơ chế phản hồi; bản đồ quy trình phải được công khai để tổ chức, công dân theo dõi, so sánh giữa các cơ quan, đơn vị. Cần kiểm soát chặt việc phát sinh giấy tờ ngoài quy định, bắt buộc đánh giá tác động chính sách đối với người dân và doanh nghiệp trước khi ban hành thủ tục mới; áp dụng quản trị rủi ro tại các khâu nhạy cảm như đất đai, đầu tư công, mua sắm công để khóa các điểm nghẽn và cơ hội trục lợi từ gốc. Số hóa toàn trình phải trở thành điều kiện bắt buộc: gắn mã định danh cho từng thủ tục, hiển thị trạng thái xử lý theo thời gian thực, thiết lập nhật ký trách nhiệm theo tài khoản cán bộ, tự động cảnh báo trễ hạn, ngăn chặn can thiệp tùy tiện vào hồ sơ. Kết quả cải cách cần được đo lường bằng bộ chỉ số gồm: số đầu mục thủ tục giảm theo năm, tỷ lệ hồ sơ xử lý đúng hạn, tỷ lệ phản hồi kiến nghị đúng hạn, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp… Các chỉ số này phải gắn trực tiếp với thi đua, khen thưởng, kỷ luật đối với tập thể và cá nhân có liên quan.
Ba là, tăng cường minh bạch dữ liệu nhà nước theo định dạng mở và thiết lập cơ chế giám sát xã hội có trách nhiệm.
Định hướng chủ đạo là chuyển từ công khai theo yêu cầu sang công khai mặc định, coi dữ liệu công là tài sản của nhân dân, trừ phần thuộc bí mật nhà nước được pháp luật quy định cụ thể. Các lĩnh vực rủi ro cao như tuyển dụng, bổ nhiệm, đấu thầu, mua sắm, đầu tư công, đất đai, tài sản công cần được yêu cầu công bố dữ liệu ở định dạng mở, kèm mô tả trường, thời điểm cập nhật, mã định danh hồ sơ, dấu vết trách nhiệm; trạng thái xử lý phải được hiển thị theo thời gian thực trên bảng điều khiển trực tuyến. Cần thiết lập cơ chế phản hồi bắt buộc cho mọi kiến nghị, yêu cầu thông tin, trong đó mọi trường hợp từ chối phải nêu rõ căn cứ pháp lý, phạm vi, quyền khiếu nại để chấm dứt tình trạng công khai hình thức. Quyền tái sử dụng dữ liệu công cần được luật hóa để các tổ chức độc lập có thể lập bảng xếp hạng minh bạch, xây dựng bản đồ rủi ro, phát triển công cụ theo dõi tiến độ thực thi chính sách. Cùng với đó, phải khuyến khích báo chí điều tra, phát hiện bất thường, đồng thời thiết lập cơ chế bảo vệ người cung cấp thông tin trung thực.
Bốn là, xây dựng văn hóa công vụ liêm chính, đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu gắn với liên thông các cơ chế thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra và bộ chỉ số đo lường kết quả phòng, chống bệnh quan liêu.
Văn hóa công vụ là nền tảng mềm để phòng ngừa quan liêu một cách bền vững. Cần định hình hệ chuẩn mực coi liêm chính, làm việc dựa trên bằng chứng, tôn trọng pháp luật và nhân dân, tinh thần trách nhiệm và dám chịu trách nhiệm là giá trị cốt lõi; đồng thời coi bệnh thành tích, báo cáo không trung thực, che giấu thông tin, né đối thoại với nhân dân là các vi phạm nghiêm trọng. Người đứng đầu phải nêu gương bằng cam kết giải trình định kỳ, đối thoại công khai, đi cơ sở theo kế hoạch và công bố kết quả xử lý kiến nghị, khiếu nại. Quản trị nhân sự cần chuyển mạnh sang đánh giá theo kết quả phục vụ, đo bằng đầu ra kiểm chứng được và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp; các chỉ số như tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, chất lượng phản hồi kiến nghị, tỷ lệ kiến nghị được giải quyết dứt điểm phải được tích hợp vào đánh giá, khen thưởng, kỷ luật, quy hoạch, bổ nhiệm. Cùng chiều với đó, cần liên thông hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra trên cơ sở một kế hoạch giám sát thống nhất hằng năm, có một đầu mối điều phối, chuẩn hóa và chia sẻ dữ liệu kết quả trên nền tảng dùng chung để truy vết trách nhiệm cá nhân. Bộ chỉ số chống quan liêu áp dụng thống nhất ở bộ, ngành, địa phương cần bao quát các nội dung như mức giảm đầu mục thủ tục, thời gian xử lý trung vị, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, tỷ lệ phản hồi đúng hạn, mức độ mở và khả dụng dữ liệu, tỷ lệ kiến nghị sau thanh tra được xử lý dứt điểm, tỷ lệ phát hiện và xử lý xung đột lợi ích, mức độ hài lòng. Việc công bố định kỳ, xếp hạng minh bạch và gắn trực tiếp các chỉ số này với thi đua, khen thưởng, kỷ luật, quy hoạch, bổ nhiệm sẽ tạo động lực thay đổi hành vi, từng bước thu hẹp “đất sống” của quan liêu và nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Tóm lại, việc bổ sung nội dung đấu tranh phòng, chống bệnh quan liêu song hành với phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng là đòi hỏi tất yếu về lý luận, thực tiễn và kỹ thuật quản trị. Trọng tâm là khép kín khoảng trống của quyền lực bằng kiểm soát chặt từ thiết kế thể chế đến thực thi; chuẩn hóa quyết định dựa trên bằng chứng; số hóa toàn trình để lưu vết trách nhiệm; công khai dữ liệu theo định dạng mở để nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, báo chí giám sát có thời hạn phản hồi bắt buộc; xây dựng văn hóa công vụ liêm chính gắn nêu gương người đứng đầu; liên thông thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra theo một kế hoạch thống nhất. Kết quả phải đo lường bằng bộ chỉ số “đếm được, so được, kiểm chứng được”, qua đó không chỉ ngăn ngừa sai phạm từ gốc, mà còn củng cố kỷ luật, kỷ cương, nâng cao niềm tin xã hội.
1. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.44, tr.346.
2. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 54, tr. 235.
3. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 43, tr. 109.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 296.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t. 13, tr. 417.