Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, phụ nữ luôn giữ vai trò quan trọng và có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Phụ nữ Việt Nam ta sẵn có truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù. Trong kháng chiến, phụ nữ ta từ Bắc đến Nam đều hăng hái tham gia đánh giặc cứu nước”1. “Phụ nữ là một lực lượng lao động rất quan trọng. Các cấp lãnh đạo phải quan tâm hơn nữa về công tác phụ nữ và chú ý hơn nữa đào tạo cán bộ, phát triển đảng viên và đoàn viên phụ nữ”2. Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của phụ nữ, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác phụ nữ nói chung, công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ nói riêng như một nhiệm vụ chiến lược trong công tác quần chúng.
Trong giai đoạn hiện nay, bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều biến đổi sâu sắc. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có đời sống, tư tưởng, nhận thức, nhu cầu và khát vọng của phụ nữ. Bên cạnh đó, các vấn đề xã hội mới nảy sinh như biến đổi cơ cấu gia đình, di cư lao động, bất bình đẳng giới tiềm ẩn, bạo lực trên cơ sở giới, tác động tiêu cực của mạng xã hội, thông tin xấu độc… đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ.
Trước yêu cầu đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ trong giai đoạn hiện nay, làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp phù hợp, khả thi có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phụ nữ, phát huy vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp phát triển đất nước.
1. Công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ có vai trò định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức, khơi dậy tiềm năng và thúc đẩy hành động tích cực của phụ nữ trong thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thông qua tuyên truyền, vận động, phụ nữ được trang bị kiến thức, kỹ năng, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức pháp luật, năng lực hội nhập, từ đó chủ động tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh.
Thực hiện các quan điểm của Đảng về công tác vận động phụ nữ, trong những năm qua, nhiều chính sách của Nhà nước đã được ban hành và sửa đổi nhằm tạo ra cơ chế thuận lợi hơn cho việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ và giải quyết những vấn đề nảy sinh có liên quan đến quyền, lợi ích của phụ nữ, như: Chỉ thị số 766/TTg của Thủ tướng Chính phủ về phân công trách nhiệm thực hiện các biện pháp ngăn chặn việc đưa trái phép phụ nữ và trẻ em ra nước ngoài; Nghị định 19 của Chính phủ về quy định trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp tạo điều kiện cho các cấp Hội Phụ nữ hoạt động và tham gia quản lý nhà nước; Luật Lao động trong đó quy định rõ các nội dung liên quan đến chính sách đối với lao động nữ; sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình, bổ sung điều khoản quyền sở hữu và thừa kế trong trường hợp chết và ly dị; sửa đổi Luật Đất đai, trong đó có quy định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cả vợ lẫn chồng…
Thực hiện những quan điểm chỉ đạo về công tác vận động phụ nữ của Đảng, nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội có liên quan trực tiếp đến phụ nữ được triển khai, tổ chức thực hiện đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận:
Trong lĩnh vực xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế: Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách cho người nghèo nói chung và phụ nữ nói riêng được vay vốn, đào tạo nghề, hỗ trợ tạo việc làm, chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi... Chính vì vậy, tỷ lệ phụ nữ và hộ gia đình phụ nữ được vay vốn, tập huấn khuyến nông không ngừng tăng, tỷ lệ phụ nữ thiếu việc làm giảm đáng kể, tỷ lệ đói nghèo do phụ nữ làm chủ hộ giảm dần, đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện đáng kể.
Trong lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội: Nhiều chương trình quốc gia đã tập trung đầu tư cho phụ nữ: phụ nữ mang thai được tiêm chủng, trẻ em gái trong độ tuổi được xóa mù chữ, tỷ lệ trẻ em gái đến trường ngày càng tăng, vấn đề chống bạo lực đối với phụ nữ được Nhà nước ta và các tầng lớp xã hội quan tâm, đẩy lùi từng bước.

Vị thế của người phụ nữ được nâng lên, chất lượng và số lượng cán bộ nữ được cải thiện, tuy chưa tương xứng với lực lượng lao động nữ và cán bộ nữ, nhưng trên thực tế, ngày càng có thêm nhiều phụ nữ được tham gia lãnh đạo, quản lý, qua đó càng khẳng định rõ vị thế, vai trò và phát huy tốt năng lực của mình.
Về phần mình, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về công tác phụ vận và đây là nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên trong thời gian qua.
Là một tổ chức chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ, những năm qua, Hội luôn quan tâm đến các hoạt động mang lại quyền lợi thiết thực cho phụ nữ. Trong xóa đói giảm nghèo, từ phong trào phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình, giúp ngày công, cây trồng, con giống…đến hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế gia đình, vươn lên làm giàu chính đáng. Chỉ tính 5 năm (2001 - 2005), hàng chục triệu lượt phụ nữ được vay các nguồn vốn qua “kênh” của Hội, trên 350 ngàn hộ nghèo do phụ nữ làm chủ được Hội giúp đỡ vốn và hướng dẫn cách làm ăn, trong đó trên 115 ngàn hộ đã thoát nghèo.
Đa dạng hóa các mô hình tập hợp phụ nữ thông qua các hình thức: tham gia hoạt động kinh tế, tín dụng tiết kiệm, hoạt động xã hội, hoạt động nâng cao kiến thức, hoạt động theo sở thích, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao... nhằm tập hợp, thu hút hội viên, giáo dục tuyên truyền chị em thực hiện tốt nhiệm vụ của Hội đồng thời tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ. Hội tập trung hướng mạnh các hoạt động về cơ sở, củng cố nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở hội; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Hội tăng cường hợp tác với các ngành, các tổ chức trong nước và quốc tế tạo điều kiện nâng cao vai trò của Hội trong việc tham gia các chương trình kinh tế - xã hội và phấn đấu vì mục tiêu bình đẳng và phát triển của phụ nữ.
Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới của đất nước, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công tác vận động phụ nữ cũng còn không ít khó khăn, trở ngại. Giải quyết việc làm cho phụ nữ, lao động nông thôn dôi dư, việc nâng cao trình độ tay nghề của phụ nữ còn hạn chế. Một bộ phận phụ nữ, trong đó có không ít cán bộ Hội ở vùng núi cao còn mù chữ; các tệ nạn xã hội ngày càng tăng, tác động tiêu cực đến đời sống của phụ nữ. Phong trào phụ nữ chưa đồng đều, tỷ lệ thu hút, tập hợp phụ nữ tham gia sinh hoạt Hội còn thấp. Một số tổ chức cơ sở đảng, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ về công tác vận động phụ nữ, nhận thức về giới còn hạn chế, chưa tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ nữ phát triển, chưa xác định được công tác vận động phụ nữ là của Đảng, nên có nơi còn tình trạng khoán trắng cho Hội Phụ nữ. Nhà nước chậm cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị của Đảng thành chính sách về phụ nữ, chưa đầu tư thỏa đáng cho công tác phụ nữ, xử lý một số vấn đề do Hội Phụ nữ đề nghị chưa kịp thời, chưa đáp ứng nhu cầu thực tế và chính đáng của phụ nữ. Chưa có chính sách đối với phụ nữ nông thôn, nông nghiệp.
Những hạn chế nêu trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan, bối cảnh kinh tế - xã hội biến đổi nhanh chóng, tác động đa chiều đến đời sống và tư tưởng của phụ nữ; sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch vùng miền, trình độ dân trí tạo ra những khó khăn trong công tác tuyên truyền, vận động. Về chủ quan, một số cấp ủy, chính quyền chưa thực sự quan tâm đúng mức đến công tác phụ nữ; công tác chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá hiệu quả tuyên truyền, vận động chưa thường xuyên; việc đổi mới nội dung, phương thức còn chậm so với yêu cầu thực tiễn.
2. Việc đổi mới vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị nói chung và phong trào phụ nữ nói riêng đang đặt ra những yêu cầu bức thiết, đòi hỏi tiếp tục đổi mới chủ trương phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay. Nổi bật mấy vấn đề sau:
Thứ nhất, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động phụ nữ cả về tư tưởng và tổ chức. Đổi mới trong cách lãnh đạo, ra nghị quyết, giao nhiệm vụ cho đoàn thể, xác định rõ trách nhiệm của Đảng đối với công tác vận động quần chúng, không khoán trắng cho cấp ủy viên phụ trách. Cần xác định rõ hướng đổi mới chung của công tác vận động phụ nữ trong giai đoạn hiện nay tương ứng với sự biến đổi của các đối tượng phụ nữ và sự phát triển của các thành phần kinh tế. Đảng viên nữ ở cơ sở phải tham gia sinh hoạt Hội Phụ nữ để làm nòng cốt cho phong trào. Đẩy mạnh việc giáo dục chính trị tư tưởng, gắn với nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho các cấp ủy đảng, cho phụ nữ và phát huy vai trò của Hội Phụ nữ, có quy hoạch và chính sách về công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ Hội. Quan tâm phát triển đảng viên nữ để tăng nguồn cán bộ cho Đảng, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền vững mạnh.
Thứ hai, để phát huy vai trò, nhiệm vụ của các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội, trong đó có Hội phụ nữ, các tổ chức đảng, cấp ủy các cấp cần xây dựng cơ chế làm việc, vai trò giám sát các hoạt động của các tổ chức trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng từ trung ương đến cơ sở.
Thứ ba, tiếp tục phát huy vai trò của Ban Dân vận các cấp trong công tác chỉ đạo, tham mưu về công tác vận động quần chúng nói chung, công tác phụ nữ nói riêng ngang tầm với nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu của các đoàn thể.
Thứ tư, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước về công tác phụ nữ; xây dựng và tổ chức thực hiện tốt Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, tạo điều kiện thuận lợi để bồi dưỡng và phát huy tiềm năng của phụ nữ. Nhà nước sớm có chính sách đặc thù đối với phụ nữ (đặc biệt là phụ nữ nông thôn), về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng tay nghề, tạo việc làm;về chăm sóc sức khỏe, chính sách bồi dưỡng tài năng nữ. Các chính sách này cần được thể hiện trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, trong kế hoạch dài hạn và kế hoạch hằng năm của các cấp bộ đảng.
Thứ năm, Hội các cấp tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy dân chủ và trí tuệ tập thể, mở rộng tính liên hiệp, đoàn kết thống nhất với phương châm: nơi nào có phụ nữ, nơi đó có tổ chức Hội. Chú ý việc tổ chức, phát triển cơ sở hội ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng sâu, vùng dân tộc miền núi, nhằm phát huy tính sáng tạo của các tầng lớp phụ nữ đóng góp cho sự nghiệp đổi mới đất nước. Xây dựng đội ngũ cán bộ Hội có đủ năng lực, trình độ, kinh nghiệm thực tiễn, nắm bắt kịp thời yêu cầu nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, phụ nữ.
Công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát huy vai trò, tiềm năng của phụ nữ đối với sự nghiệp phát triển bền vững đất nước. Thực tiễn cho thấy, mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song công tác này vẫn còn không ít hạn chế, đòi hỏi phải tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ cả về nhận thức, nội dung và phương thức. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, qua đó khẳng định và phát huy hơn nữa vai trò của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập¸Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 12, tr. 507.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập¸ Sđd, t. 14, tr. 231.