Xây dựng Chính phủ điện tử hướng đến Chính phủ số ở Việt Nam hiện nay

CT&PT - Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển của khoa học, công nghệ, đặc biệt là Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội… đòi hỏi các quốc gia phải đẩy mạnh xây dựng chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số, và đây là xu hướng tất yếu khách quan. Những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong xây dựng chính phủ điện tử, tuy nhiên vẫn còn những bất cập, vướng mắc, đòi hỏi cần có giải pháp đột phá để tiếp tục xây dựng chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.

1. Thực trạng xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số ở Việt Nam

Trong hơn một thập niên qua, xây dựng Chính phủ điện tử và tiến tới Chính phủ số đã trở thành một trong những trọng tâm của chiến lược chuyển đổi số quốc gia ở Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta xác định đây không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật mà là một cuộc đổi mới căn bản phương thức quản trị, vận hành Nhà nước và cung ứng dịch vụ công, nhằm phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và củng cố niềm tin xã hội.

Ngay từ Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 về Chính phủ điện tử, Chính phủ đã đặt mục tiêu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, nâng cao tính công khai, minh bạch, phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tiếp đó, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã khẳng định: “Phát triển Chính phủ điện tử, tiến tới Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số là xu thế tất yếu”. Đây là văn kiện mang tính định hướng chiến lược, tạo cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc để chuyển từ giai đoạn “số hóa hoạt động hành chính” sang giai đoạn “quản trị công dựa trên dữ liệu và nền tảng số” .

Một dấu mốc đặc biệt quan trọng là Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030. Chiến lược này nêu rõ quan điểm: “Phát triển Chính phủ số lấy người dân làm trung tâm; dữ liệu là tài nguyên mới; nền tảng số là công cụ cốt lõi; an toàn, an ninh mạng là then chốt” .

Đến nay, hầu hết các bộ, ngành, địa phương đã ban hành kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến 2030; nhiều tỉnh, thành phố như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Bình Dương… đã hình thành “chính quyền số” bước đầu, với những nền tảng dữ liệu dùng chung, trung tâm điều hành thông minh (IOC), hệ thống báo cáo số hóa và cơ chế giám sát trực tuyến hiệu quả.

unnamed-1762592786.png

 

Như vậy, có thể thấy tư duy quản trị công tại Việt Nam đã chuyển dịch căn bản: từ việc coi công nghệ là công cụ hỗ trợ, sang việc xây dựng môi trường số làm nền tảng vận hành chính quyền hiện đại, minh bạch, phục vụ và hiệu quả.

Việt Nam đã ban hành hệ thống văn bản pháp lý tương đối đầy đủ để định hướng, điều phối và thúc đẩy xây dựng Chính phủ điện tử. Ngoài Quyết định 942/QĐ-TTg, còn có các văn bản quan trọng như Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi) năm 2023, Nghị định số 47/2020/NĐ-CP về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số, Chiến lược dữ liệu quốc gia đến năm 2030 (Quyết định số 1755/QĐ-TTg năm 2024), Nghị định 85/2016/NĐ-CP về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ, v.v..

Những văn bản này góp phần tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho việc thu thập, quản lý, chia sẻ, khai thác và bảo vệ dữ liệu của các cơ quan nhà nước; thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động quản lý, đồng thời đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin cá nhân và dữ liệu quốc gia.

Đáng chú ý, từ năm 2023, Chính phủ đã ban hành Bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số cấp bộ, cấp tỉnh (DTI), do Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì. Bộ chỉ số này giúp theo dõi tiến độ, xếp hạng mức độ chuyển đổi số của từng địa phương, từng ngành, qua đó tạo động lực thi đua và thúc đẩy quá trình triển khai đồng bộ hơn .

Hạ tầng số quốc gia đã có những bước phát triển mạnh. Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước được triển khai đến 100% bộ, ngành, tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương và hơn 97% quận/huyện. Tính đến giữa năm 2024, đã có 100% bộ, ngành, địa phương kết nối với Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP) - nền tảng giúp các cơ quan nhà nước trao đổi dữ liệu an toàn, thông suốt, giảm trùng lặp và tiết kiệm thời gian xử lý hồ sơ .

Cùng với đó, nhiều CSDL quốc gia và chuyên ngành đã được xây dựng, như: CSDL quốc gia về dân cư, đất đai, bảo hiểm, đăng ký doanh nghiệp, tài chính, cán bộ công chức… Các cơ sở dữ liệu này đang được tích hợp và khai thác phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và cung cấp dịch vụ công. Việc khai trương Cổng Dịch vụ công quốc gia vào năm 2019 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khi hàng trăm thủ tục hành chính được tích hợp, kết nối, phục vụ người dân trực tuyến 24/7.

Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, đến năm 2024, 100% bộ, ngành, địa phương có nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp tỉnh (LGSP); khoảng 70% hệ thống thông tin của các cơ quan đã được kết nối, liên thông với Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là điều kiện cốt lõi để tiến tới chính phủ số toàn diện.

Đặc biệt, tính đến cuối năm 2023, 100% dịch vụ công đủ điều kiện đã được cung cấp trực tuyến mức độ 4, cho phép người dân, doanh nghiệp thực hiện toàn bộ quy trình (nộp hồ sơ, thanh toán, nhận kết quả) trên môi trường mạng. Riêng trong năm 2024, Cổng Dịch vụ công quốc gia ghi nhận hơn 2,3 triệu tài khoản đăng ký mới, với trên 10 triệu lượt truy cập mỗi tháng .

Các thủ tục được số hóa toàn diện gồm: khai sinh, đăng ký kết hôn, cấp hộ chiếu, đăng ký xe, thuế điện tử, bảo hiểm xã hội, thanh toán học phí, viện phí… Việc triển khai thẻ căn cước công dân gắn chip và định danh điện tử (VNeID) đã tạo nền tảng cho xác thực, tích hợp thông tin và sử dụng dịch vụ công thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

Kết quả khảo sát của Bộ Nội vụ năm 2024 cho thấy, mức độ hài lòng của người dân về dịch vụ công trực tuyến đạt khoảng 89%, tăng 5 điểm phần trăm so với năm 2022; tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến thường xuyên của người dân tăng từ 35% lên 55% . Những con số này cho thấy chính phủ số đang từng bước đi vào đời sống thực tiễn, tạo ra thay đổi tích cực trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.

Theo Báo cáo khảo sát Chính phủ điện tử của Liên Hợp Quốc năm 2024 (EGDI), Việt Nam xếp thứ 71/193 quốc gia, tăng 15 bậc so với năm 2022, lần đầu tiên thuộc nhóm “rất cao” của thế giới. Chỉ số Dịch vụ trực tuyến (OSI) đạt 0,82 điểm (so với mức trung bình 0,56 toàn cầu), chỉ số Hạ tầng viễn thông (TII) đạt 0,75 điểm, chỉ số Nguồn nhân lực (HCI) đạt 0,79 điểm .

Ngoài ra, theo Báo cáo Chuyển đổi số quốc gia năm 2024, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng chỉ số Chính phủ số nhanh thứ ba trong khu vực ASEAN, chỉ sau Singapore và Malaysia . Đây là minh chứng cho nỗ lực bền bỉ của Việt Nam trong quá trình hội nhập và hiện đại hóa nền hành chính quốc gia.

Dù đạt nhiều kết quả tích cực, quá trình xây dựng Chính phủ điện tử và Chính phủ số ở Việt Nam vẫn còn không ít hạn chế, thách thức.

Nhiều bộ, ngành, địa phương vẫn triển khai hệ thống công nghệ thông tin theo kiểu “cát cứ”, thiếu tính kết nối, chia sẻ. Một số địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, còn gặp khó khăn về hạ tầng viễn thông, tốc độ truy cập internet và khả năng tích hợp dịch vụ công. Việc chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan còn hạn chế, nhiều trường hợp “một dữ liệu - nhiều nơi lưu”, gây lãng phí nguồn lực và làm giảm độ tin cậy của dữ liệu.

Đội ngũ cán bộ, công chức có kỹ năng số, hiểu biết về dữ liệu, quản trị số còn hạn chế. Tỷ lệ công chức, viên chức ở cấp cơ sở được đào tạo bài bản về kỹ năng số còn thấp. Không ít nơi vẫn mang nặng tư duy hành chính truyền thống, e ngại thay đổi, sợ sai, dẫn đến chậm triển khai hoặc làm hình thức.

Mặc dù các dịch vụ công trực tuyến đã phổ biến, nhưng tỷ lệ người dân nông thôn, người cao tuổi hoặc nhóm yếu thế sử dụng dịch vụ số vẫn còn thấp. Theo Báo cáo Digital 2024 của DataReportal, chỉ khoảng 76% dân số Việt Nam sử dụng internet thường xuyên, trong đó chênh lệch vùng miền vẫn lớn. Điều này khiến chính phủ số chưa thực sự bao trùm, làm giảm hiệu quả tương tác giữa Nhà nước và xã hội.

Một số vụ việc rò rỉ thông tin cá nhân, gian lận dữ liệu hay tin giả lan truyền trên môi trường mạng đã phần nào làm giảm niềm tin của người dân vào môi trường số. Khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân mới được ban hành (Nghị định 13/2023/NĐ-CP) nhưng vẫn cần hoàn thiện cơ chế giám sát và xử lý vi phạm. Khi niềm tin dữ liệu chưa vững, việc chuyển dịch sang chính phủ số sẽ khó đạt được hiệu quả kỳ vọng.

Một số dịch vụ công trực tuyến vẫn được thiết kế theo tư duy của cơ quan quản lý, thiếu trải nghiệm thân thiện, dễ hiểu đối với người dân. Quy trình xử lý còn phức tạp, đòi hỏi người dùng tải nhiều biểu mẫu, xác nhận nhiều cấp. Điều này dẫn tới nghịch lý: dù có dịch vụ số nhưng người dân vẫn chọn đến trực tiếp để “cho chắc”.

Nguyên nhân của các hạn chế trên bắt nguồn từ: (i) nhận thức và tư duy quản lý chưa theo kịp yêu cầu chuyển đổi số; (ii) cơ chế phối hợp liên ngành, liên cấp còn lỏng lẻo; (iii) nguồn lực đầu tư hạn chế và dàn trải; (iv) chưa có cơ chế đánh giá hiệu quả rõ ràng và xử lý trách nhiệm khi chậm tiến độ.

Nhìn chung, Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ trong hành trình từ Chính phủ điện tử sang Chính phủ số. Trong 5 năm gần đây, nền tảng thể chế, hạ tầng, dữ liệu và dịch vụ công đã có bước tiến dài. Nhiều chỉ số quốc tế được cải thiện, phản ánh năng lực quản trị quốc gia đang từng bước hiện đại hóa. Tuy nhiên, nếu đặt trong yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững, quá trình này mới chỉ ở “giai đoạn giữa đường”: chuyển từ “số hóa hoạt động” sang “chuyển đổi mô hình vận hành” vẫn còn nhiều việc phải làm.

Đặc biệt, niềm tin của người dân vào Chính phủ số - yếu tố then chốt để quá trình chuyển đổi thành công cần tiếp tục được nuôi dưỡng thông qua chất lượng thực thi chính sách, bảo đảm an toàn thông tin, tăng cường minh bạch và trải nghiệm người dùng. Khi người dân thực sự cảm nhận rằng Chính phủ số mang lại lợi ích thiết thực, thuận tiện và công bằng, thì quá trình chuyển đổi này mới đạt tới mục tiêu cuối cùng: xây dựng một Chính phủ của dân, do dân và vì dân trong kỷ nguyên số.

2. Giải pháp tiếp tục xây dựng chính phủ điện tử hướng tới chính phủ số ở Việt Nam

Một là, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng về sử dụng công nghệ thông tin và kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức và người dân. Theo đó, cần bồi dưỡng để nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức về chính phủ số, khung kiến trúc chính phủ điện tử Việt Nam và bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Xem xét nghiên cứu để đưa nội dung phổ cập kỹ năng số và an toàn, an ninh mạng vào giảng dạy trong nhà trường từ cấp tiểu học để hình thành sớm các kỹ năng cần thiết cho công dân số. Xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách về thuê dịch vụ, hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ số để nghiên cứu, đầu tư các sản phẩm, dịch vụ phát triển chính phủ số theo phương thức đối tác công tư, đóng vai trò chính trong điều phối, quy hoạch, thúc đẩy việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ chính phủ số. Chính phủ triển khai một số hoạt động mang tính định hướng, kiến tạo thị trường hoặc cung cấp các dịch vụ công số cơ bản phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Hai là, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và tham khảo kinh nghiệm xây dựng khung pháp lý, tiêu chuẩn, sáng kiến về chính phủ số và phát triển công nghệ số, kinh tế số của các tổ chức quốc tế phù hợp với mục tiêu và lợi ích của Việt Nam. Rà soát, loại bỏ các thủ tục hành chính, quy trình nghiệp vụ trong các cơ quan nhà nước theo hướng đơn giản hóa hoặc thay đổi phù hợp để có thể ứng dụng hiệu quả công nghệ số, kết hợp chặt chẽ giữa cải cách thủ tục hành chính với phát triển chính phủ số. Cung cấp, tích hợp tất cả DVCTT của các bộ, ngành, địa phương lên Cổng Dịch vụ công quốc gia để người dân, doanh nghiệp thuận lợi khi truy cập, tìm kiếm, sử dụng DVCTT mà họ mong muốn qua một địa chỉ duy nhất trên mạng.

Ba là, đầu tư nghiên cứu phát triển để có thể làm chủ các công nghệ lõi... trọng tâm là ứng dụng nền tảng mở, mã nguồn mở, hình thành hệ sinh thái để các doanh nghiệp công nghệ số có thể tham gia phát triển các dịch vụ kinh tế số, xã hội số, phục vụ chính phủ số. Lựa chọn ưu tiên, đẩy mạnh nghiên cứu một số công nghệ cốt lõi có khả năng tạo bứt phá mạnh mẽ như QR code, trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi khối (blockchain), thực tế ảo/thực tế tăng cường (VR/AR), dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ điện toán đám mây (Cloud Computing), bảo mật, an toàn, an ninh mạng, nền tảng tích hợp, xây dựng và chia sẻ cơ sở dữ liệu số quốc gia, phát triển các ứng dụng chuyên ngành, phục vụ xây dựng chính phủ số.

Bốn là, bảo đảm kinh phí cho xây dựng chính phủ điện tử hướng tới chính phủ số. Sử dụng ngân sách nhà nước và huy động các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật để phát triển chính phủ số. Ưu tiên bố trí nguồn vốn đầu tư công để thực hiện các dự án phát triển hạ tầng, trung tâm dữ liệu, cơ sở dữ liệu quốc gia, nền tảng số quốc gia, các ứng dụng, dịch vụ công quốc gia, tăng cường thực hiện giải pháp thuê dịch vụ công nghệ thông tin, sử dụng vốn đầu tư công do ngân sách trung ương đảm bảo. Chú trọng hoàn thiện khung pháp lý cho hệ thống ngân hàng và định danh số nhằm phát triển hệ thống thanh toán điện tử. Đồng thời, tiến hành đo lường, giám sát, đánh giá hiệu quả trong triển khai các dự án đầu tư và thực hiện đo lường, giám sát tự động tới từng hệ thống, từng dịch vụ phục vụ chính phủ điện tử, chính phủ số.

Năm là, nâng cao kỹ năng số, văn hóa công vụ và đổi mới phương thức làm việc của bộ máy nhà nước phải được coi là “đột phá mềm” của tiến trình xây dựng Chính phủ số. Trước hết, cần chuyển từ đào tạo rải mành mành sang phát triển năng lực theo khung chuẩn: năng lực dữ liệu (data literacy), năng lực quy trình số (process & service design), năng lực an toàn thông tin và đạo đức số. Mỗi vị trí việc làm gắn với bộ kỹ năng tối thiểu và lộ trình bồi dưỡng bắt buộc; cán bộ lãnh đạo quản lý bổ sung năng lực ra quyết định dựa trên dữ liệu (evidence-based policy) và tổ chức công việc trên nền tảng số. Song song, hình thành lực lượng nòng cốt gồm CDO/DPO cấp bộ, nhóm chuyên gia nghiệp vụ - công nghệ “lưỡng năng”, có cơ chế đãi ngộ, luân chuyển và đặt hàng nhiệm vụ theo sản phẩm đầu ra. Văn hóa công vụ phải dịch chuyển từ “quy trình vì cơ quan” sang “trải nghiệm vì người dân”. Tối giản thủ tục, chuẩn hóa ngôn ngữ hành chính, công khai thời hạn - trách nhiệm, lấy mức độ hài lòng số của người dùng làm tiêu chí đánh giá, thưởng - phạt. Lãnh đạo nêu gương sử dụng hệ thống số, ký số triệt để, họp - chỉ đạo trên nền tảng số; mọi hồ sơ, báo cáo chuyển nguyên tắc “mặc định số”, hạn chế tối đa yêu cầu bản giấy. Mỗi cơ quan ban hành “Sổ tay làm việc số” (digital playbook) và chuẩn vận hành (SOP) thống nhất, tích hợp bảo mật, phân quyền. Đổi mới phương thức làm việc theo hướng tinh gọn - linh hoạt: thiết kế dịch vụ công theo vòng đời sự kiện (life-event), vận dụng tư duy sản phẩm số (product mindset), triển khai thử nghiệm nhanh (sandbox/pilot), đo lường thời gian xử lý thực tế (cycle time) và tự động hóa các khâu lặp (RPA, low-code). Thúc đẩy làm việc kết hợp, cộng tác liên thông trung ương - địa phương trên các nền tảng chia sẻ; thiết lập cơ chế phản hồi thời gian thực, đường dây nóng số và “ngày không giấy tờ”. Khi kỹ năng số vững, văn hóa phục vụ rõ, phương thức làm việc hiện đại, Chính phủ số sẽ vận hành hiệu lực, tạo niềm tin bền vững nơi Nhân dân.


Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Trọng Bình: Một số vấn đề lý luận về đánh giá quản trị công, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 10/2018, tr. 17.
2. Nguyễn Thanh Hải: Công tác quản lý nhà nước về an toàn thông tin, Tạp chí Công nghệ thông tin và truyền thông, kỳ 2, 2014, tr. 27.
3. Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin