Phát huy giá trị truyền thống văn hóa biển đảo Việt Nam

CT&PT - Việt Nam là quốc gia biển với bờ biển dài hơn 3.260 km, gắn liền với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ. Truyền thống văn hóa biển đảo đã hình thành và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, là bộ phận hữu cố đặc sắc của văn hóa dân tộc, thể hiện tình yêu nước, ý thức chủ quyền và khát vọng hướng biển của người Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu và những thách thức an ninh phi truyền thống trên biển gia tăng, việc phát huy giá trị truyền thống văn hóa biển đảo Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa đặc biệt, vừa góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại mới, vừa tăng cường "thế trận lòng dân" trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

a-ngu-1751793088.jpg
Lễ hội Cầu Ngư - Quang cảnh đám rước thần về lăng thờ của ngư dân xã Nhơn Hải, Quy Nhơn, Bình Định.

1. Giá trị truyền thống văn hóa biển đảo Việt Nam

Việt Nam là quốc gia ven biển với đường bờ biển dài hơn 3.260 km, trải rộng từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang), cùng hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – những phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, cư dân Việt đã hình thành và phát triển một nền văn hóa biển đảo đặc sắc, thể hiện sinh động trong đời sống vật chất, tinh thần, phong tục, tín ngưỡng, tri thức dân gian và các thiết chế cộng đồng. Văn hóa biển đảo Việt Nam không chỉ phản ánh sự thích ứng của con người với môi trường sinh thái biển mà còn là kết tinh của tinh thần yêu nước, ý chí độc lập tự cường và khát vọng vươn khơi, làm chủ không gian biển.

Văn hóa biển đảo Việt Nam trước hết được thể hiện qua các hình thức sinh kế truyền thống gắn bó chặt chẽ với môi trường biển như đánh bắt thủy sản, làm muối, nuôi trồng hải sản, khai thác hải sản ven bờ và xa bờ, vận tải đường biển, chế tác ngư cụ, đóng tàu thuyền… Trong quá trình sinh sống, người dân biển đã tích lũy và truyền lại cho các thế hệ sau những tri thức phong phú về hải dương học dân gian như cách quan sát con nước, hướng gió, mây trời, loài cá di chuyển, thời tiết mùa vụ,... Hệ tri thức này không chỉ là kinh nghiệm sống mà còn là vốn văn hóa quý báu, thể hiện sự thích ứng linh hoạt và sáng tạo của con người với biển cả.

Bên cạnh đó, nhiều cộng đồng ven biển, đặc biệt là ở các làng chài cổ như Cửa Việt, Cửa Tùng (Quảng Trị), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Phan Thiết (Bình Thuận), Vũng Tàu (Bà Rịa – Vũng Tàu), Cần Giờ (TP. Hồ Chí Minh)... đã hình thành nên những phong tục tập quán đặc thù của cư dân biển, thể hiện trong tổ chức lao động, phương thức sở hữu tài nguyên biển, lễ hội cầu ngư, lễ hội Nghinh Ông, tín ngưỡng thờ cá Ông (cá voi), thờ Thủy Long Thánh Mẫu, thờ các vị thần bảo trợ nghề cá… Những hình thức sinh hoạt này phản ánh một thế giới quan đặc sắc, trong đó con người không đối kháng với thiên nhiên mà hài hòa, cộng sinh với biển cả.

Một giá trị nổi bật của văn hóa biển đảo Việt Nam là tinh thần cố kết cộng đồng được thể hiện rõ nét trong thiết chế làng xã ven biển – nơi hình thành các làng chài, các tập thể ngư dân, những nhóm đoàn kết nghề nghiệp và tín ngưỡng. Trong quá trình ra khơi, ngư dân không chỉ phải đối mặt với thiên tai, rủi ro trên biển mà còn phải tương hỗ nhau trong khai thác, cứu nạn, tìm kiếm luồng cá, chia sẻ bến đỗ và nguồn lợi. Từ đó hình thành nên các “nghiệp đoàn nghề cá”, “tổ tự quản trên biển” hay “đội tàu kết nghĩa”, đóng vai trò quan trọng trong gắn kết cộng đồng và tạo ra mạng lưới an sinh, hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngư dân.

Bên cạnh đó, hệ thống thiết chế làng biển cũng góp phần định hình văn hóa biển đảo. Nhà thờ họ, đình làng, miếu thờ cá Ông, lễ hội cầu ngư… là không gian tổ chức đời sống văn hóa cộng đồng, thể hiện sự hòa quyện giữa văn hóa dân gian, tín ngưỡng bản địa với tinh thần lao động sản xuất. Đây là môi trường nuôi dưỡng các giá trị đạo đức như yêu thương đùm bọc, chia sẻ khó khăn, kính trọng thần linh, biết ơn biển cả – những yếu tố góp phần ổn định đời sống xã hội và củng cố niềm tin của người dân vào thiên nhiên và cuộc sống.

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam cho thấy biển đảo luôn là một bộ phận không thể tách rời của không gian sinh tồn và phát triển quốc gia. Từ thời các triều đại phong kiến, nhà nước Việt Nam đã ý thức rõ chủ quyền biển đảo, thể hiện qua các hoạt động thực thi chủ quyền và khai thác tài nguyên như việc thành lập đội Hoàng Sa – Bắc Hải (thế kỷ XVII – XVIII), tổ chức tuần tra, cắm mốc, dựng bia chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ý thức chủ quyền này không chỉ là tư tưởng của nhà nước phong kiến mà còn thấm sâu vào trong lòng dân. Các truyền thuyết dân gian, thơ ca, huyền thoại về các vị thần biển, các vị anh hùng bảo vệ biển đảo đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, sự kiên cường của người dân vùng biển. Nhiều địa phương ven biển như Lý Sơn, Phú Quốc, Trường Sa hiện nay vẫn lưu giữ các nghi lễ “khao lề thế lính Hoàng Sa”, dựng bia tưởng niệm, tôn vinh công lao những người hy sinh vì chủ quyền biển đảo.

Những giá trị ấy ngày nay tiếp tục được phát huy trong thực tiễn bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. Lực lượng ngư dân là “cột mốc sống” trên biển, vừa lao động sản xuất, vừa góp phần khẳng định chủ quyền biển đảo. Các lực lượng hải quân, cảnh sát biển, kiểm ngư, biên phòng... được nhân dân ủng hộ mạnh mẽ, hình thành nên một thế trận nhân dân trên biển vững chắc, dựa vào dân, dựa vào văn hóa, để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.

Một điểm nổi bật của văn hóa biển đảo Việt Nam là tính thích ứng cao và khả năng biến đổi linh hoạt trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và biến động xã hội. Các ngư dân ven biển không ngừng đổi mới phương tiện khai thác, chuyển đổi nghề nghiệp phù hợp với mùa vụ, vùng biển; áp dụng tri thức dân gian kết hợp khoa học kỹ thuật để cải thiện năng suất; hình thành mô hình kinh tế hợp tác, tổ đội sản xuất trên biển và các loại hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái biển.

Mặt khác, trước tác động của toàn cầu hóa và hiện đại hóa, văn hóa biển đảo cũng đang chuyển mình để thích ứng. Một số giá trị truyền thống như lễ hội cầu ngư, tín ngưỡng thờ cá Ông… được phục dựng, nâng tầm thành di sản văn hóa quốc gia, phục vụ phát triển du lịch và quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Các làng nghề ven biển, nghề muối, nghề làm nước mắm, đan lưới, đóng tàu gỗ… cũng được bảo tồn và phát triển thành sản phẩm OCOP, sản phẩm du lịch đặc trưng, góp phần đa dạng hóa sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân.

Cuối cùng, văn hóa biển đảo Việt Nam là một bộ phận hữu cơ của nền văn hóa dân tộc, góp phần làm giàu bản sắc văn hóa Việt Nam trong sự thống nhất đa dạng. Văn hóa biển không tách biệt mà hòa quyện với văn hóa sông nước đồng bằng, văn hóa miền núi, văn hóa đô thị và văn hóa các dân tộc thiểu số. Qua đó, hình thành nên một chỉnh thể văn hóa thống nhất trong đa dạng, gắn bó mật thiết giữa con người với thiên nhiên, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa hiện tại với lịch sử.

Cũng vì thế, việc phát huy các giá trị truyền thống văn hóa biển đảo không chỉ có ý nghĩa đối với các tỉnh ven biển mà còn là một yêu cầu của chiến lược phát triển văn hóa quốc gia, một phần không thể thiếu trong công cuộc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc như Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã chỉ rõ: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”.

2. Vai trò của văn hóa biển đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Văn hóa biển đảo, xét từ góc độ bản sắc, tinh thần và chức năng xã hội, không chỉ là di sản của quá khứ mà còn là động lực và nền tảng vững chắc cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh hiện nay. Trải qua hàng nghìn năm cư trú, khai thác và sinh sống trên vùng biển rộng lớn, cư dân ven biển và hải đảo Việt Nam đã hình thành một hệ giá trị văn hóa phong phú, bền vững, góp phần tạo nên ý thức quốc gia – dân tộc gắn với chủ quyền biển đảo thiêng liêng. Chính từ sự tích lũy ấy, văn hóa biển đảo trở thành điểm tựa tinh thần quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và những thách thức mới đặt ra trên không gian biển.

Trước hết, văn hóa biển đảo đóng vai trò là nền tảng để hình thành ý thức chủ quyền và lòng yêu nước trong cộng đồng dân cư và toàn xã hội. Các phong tục, tín ngưỡng và lễ hội truyền thống như lễ cầu ngư, lễ Nghinh Ông, nghi thức “khao lề thế lính Hoàng Sa” không chỉ phản ánh sự gắn bó sâu sắc giữa con người với biển cả mà còn tái hiện lịch sử thực thi chủ quyền lâu đời của cha ông trên những vùng biển xa. Những biểu tượng tâm linh ấy, khi được duy trì qua nhiều thế hệ, đã trở thành hình thái văn hóa mang tính biểu trưng cao, góp phần chuyển hóa chủ quyền chính trị – pháp lý thành chủ quyền tinh thần trong lòng người dân. Từ đó, văn hóa biển đảo góp phần hình thành bản lĩnh chính trị vững vàng, nâng cao nhận thức về bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, đặc biệt trong bối cảnh tranh chấp và thách thức chủ quyền tại Biển Đông đang ngày càng phức tạp.

Đồng thời, văn hóa biển đảo còn đóng vai trò là sợi dây kết nối cộng đồng, tạo nên sức mạnh nội sinh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong lịch sử và hiện tại, các cộng đồng cư dân ven biển như người Kinh, Chăm, Hoa, Khmer, v.v… đã cùng sinh sống, hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình lao động, sản xuất và bảo vệ lãnh thổ. Các làng chài ven biển, các nghiệp đoàn nghề cá, các tổ đội đoàn kết ra khơi, các thiết chế tín ngưỡng cộng đồng… là những thiết chế văn hóa – xã hội quan trọng hình thành từ nhu cầu gắn bó cộng sinh với biển. Đó không chỉ là phương thức tổ chức lao động mà còn là hình thức kết đoàn tự nhiên, góp phần hình thành thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc trên biển. Trong điều kiện hiện nay, các cộng đồng ấy tiếp tục phát huy vai trò như “cột mốc sống” - những thực thể xã hội vừa sinh kế, vừa là lực lượng bảo vệ chủ quyền, dưới sự hỗ trợ của Nhà nước và các lực lượng vũ trang.

Bên cạnh vai trò chính trị - xã hội, văn hóa biển đảo còn có ý nghĩa to lớn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Các di sản văn hóa biển đảo, từ các lễ hội truyền thống đến các làng nghề thủ công ven biển, ngày càng được đầu tư khôi phục và phát triển thành sản phẩm du lịch đặc trưng, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và nâng cao giá trị gia tăng của các ngành kinh tế biển. Tại nhiều địa phương ven biển, việc kết hợp giữa bảo tồn văn hóa truyền thống với phát triển các loại hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái biển, du lịch văn hóa đã giúp hình thành chuỗi giá trị văn hóa - kinh tế - sinh thái bền vững. Đây chính là cách tiếp cận văn hóa như một nguồn lực mềm, góp phần thực hiện thành công Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 mà Đảng ta đã xác định.

Không những thế, trong bối cảnh chiến tranh thông tin, xuyên tạc lịch sử và âm mưu “diễn biến hòa bình” ngày càng tinh vi, phức tạp, văn hóa biển đảo còn là một “lá chắn mềm” giúp nâng cao sức đề kháng của xã hội trước các nguy cơ phi truyền thống. Những câu chuyện truyền thuyết về người lính Hoàng Sa, những bài dân ca biển, những nghi thức thờ thần biển, các biểu tượng văn hóa gắn liền với hải đảo không chỉ củng cố niềm tin vào quá khứ lịch sử mà còn nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, ý thức trách nhiệm với Tổ quốc trong hiện tại và tương lai. Thông qua giáo dục, truyền thông và các hoạt động văn hóa, các giá trị ấy có thể được lan tỏa mạnh mẽ, trở thành chất keo gắn kết tinh thần dân tộc và củng cố lòng tin xã hội - điều đặc biệt quan trọng trong công cuộc bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, trong đó có chủ quyền biển đảo.

Tóm lại, vai trò của văn hóa biển đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không chỉ được thể hiện trong phạm vi văn hóa đơn thuần mà còn lan tỏa sang các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, đối ngoại. Đó là sức mạnh mềm nhưng bền bỉ, giúp củng cố bản lĩnh quốc gia, tăng cường nội lực dân tộc và khẳng định vị thế, hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế như một quốc gia giàu truyền thống biển, yêu chuộng hòa bình nhưng kiên cường trong bảo vệ chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ.

3. Giải pháp phát huy giá trị truyền thống văn hóa biển đảo Việt Nam trong bối cảnh mới

Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh toàn diện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, đồng thời đối mặt với nhiều thách thức truyền thống và phi truyền thống trên biển, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa biển đảo không chỉ mang ý nghĩa gìn giữ bản sắc dân tộc, mà còn là một nhiệm vụ chiến lược, góp phần tăng cường sức mạnh mềm, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Để thực hiện hiệu quả mục tiêu đó, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp trọng tâm sau đây:

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn xã hội về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa biển đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc khơi dậy tình yêu biển, đảo, lòng tự hào dân tộc và ý thức chủ quyền cần được thực hiện thông qua các chương trình giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục công dân ở các cấp học; tăng cường truyền thông về biển đảo trên các phương tiện thông tin đại chúng; tích cực tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về văn hóa biển đảo; lồng ghép nội dung biển đảo trong các hoạt động đoàn thể, văn hóa - nghệ thuật, sáng tác văn học. Cần chú trọng đối tượng thế hệ trẻ - lực lượng kế tục sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia – thông qua các hình thức giáo dục trực quan, thực địa, như tổ chức “hành trình về với biển đảo”, các trại hè thanh niên, các chuyến công tác xã hội tại Trường Sa, Cô Tô, Lý Sơn, v.v..

Hai là, tăng cường công tác sưu tầm, nghiên cứu, kiểm kê, phân loại và số hóa các giá trị văn hóa biển đảo, nhằm bảo tồn, phát huy một cách có hệ thống, khoa học và hiệu quả. Đây là nền tảng để xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa biển đảo, phục vụ công tác hoạch định chính sách, phát triển du lịch văn hóa biển và hỗ trợ công cuộc đấu tranh pháp lý - chính trị về chủ quyền quốc gia. Nhà nước cần hỗ trợ, giao nhiệm vụ cho các viện nghiên cứu, trường đại học, bảo tàng chuyên ngành và chính quyền địa phương tiến hành điều tra, tư liệu hóa, số hóa các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể liên quan đến biển đảo, như lễ hội truyền thống, tín ngưỡng dân gian, tri thức bản địa, hệ thống đình, miếu, bia đá, gia phả, sắc phong, tư liệu hán nôm, v.v..

Ba là, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa biển đảo gắn với phát triển kinh tế biển bền vững và xây dựng văn hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo hướng đó, cần đẩy mạnh các mô hình “kinh tế văn hóa biển” mà ở đó di sản văn hóa truyền thống trở thành nguồn lực để phát triển các ngành kinh tế như du lịch biển, dịch vụ nghỉ dưỡng, các sản phẩm OCOP gắn với làng nghề biển (nước mắm, chế tác ngư cụ, đóng tàu gỗ, muối truyền thống…). Đồng thời, chú trọng xây dựng thương hiệu văn hóa cho các địa phương ven biển, từng bước nâng cao vị thế văn hóa biển đảo Việt Nam trên bản đồ du lịch khu vực và thế giới.

Bốn là, phát huy vai trò chủ thể văn hóa của cộng đồng cư dân biển, đảo trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Cần chuyển từ phương thức bảo tồn một chiều sang mô hình “đồng sáng tạo” - tức là chính người dân địa phương được tham gia, được lắng nghe, được quyết định và được thụ hưởng thành quả từ các chính sách văn hóa biển đảo. Việc tổ chức lễ hội truyền thống, phục dựng phong tục, bảo vệ không gian văn hóa cần có sự tham vấn sâu với cộng đồng, phù hợp với điều kiện sinh kế, phong tục địa phương và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ vật chất, khuyến khích tinh thần, ghi nhận đóng góp của các nghệ nhân dân gian, những người nắm giữ và truyền dạy di sản biển đảo, góp phần duy trì sự sống cho văn hóa trong cộng đồng.

Năm là, tăng cường lồng ghép nhiệm vụ bảo tồn văn hóa biển đảo với các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng - an ninh vùng biển, đảo. Phát triển văn hóa không thể tách rời nhiệm vụ phát triển tổng thể vùng biển - hải đảo. Do đó, quy hoạch phát triển hạ tầng, xây dựng nông thôn mới ở các xã đảo, đầu tư giao thông ven biển, nâng cao đời sống nhân dân cần gắn với việc bảo vệ không gian văn hóa truyền thống. Trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo, cần coi trọng yếu tố văn hóa như một mặt trận - mặt trận đấu tranh tư tưởng, nhận thức, dư luận xã hội, bên cạnh mặt trận pháp lý và chính trị - ngoại giao. Bên cạnh các lực lượng chuyên trách như hải quân, kiểm ngư, cảnh sát biển, cần xây dựng lực lượng “chiến sĩ văn hóa”, bao gồm các nhà báo, nghệ sĩ, trí thức, người dân có nhiệm vụ lan tỏa, khơi dậy niềm tin và lòng yêu nước trong toàn xã hội.

Sáu là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, quảng bá các giá trị văn hóa biển đảo Việt Nam ra thế giới. Trong bối cảnh hội nhập, việc quảng bá văn hóa biển đảo góp phần nâng cao hình ảnh đất nước, gia tăng sức mạnh mềm và tạo lợi thế trong các diễn đàn quốc tế về biển, văn hóa, chủ quyền. Cần tích cực giới thiệu các di sản văn hóa biển đảo (như Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, Lễ hội Cầu ngư, các làng nghề biển truyền thống) trên các kênh ngoại giao văn hóa, hội chợ du lịch quốc tế, các ấn phẩm học thuật song ngữ, phim tài liệu chuyên đề… Đồng thời, khuyến khích các chương trình hợp tác nghiên cứu với nước ngoài, đề xuất công nhận một số di sản văn hóa biển đảo tiêu biểu vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể cấp quốc gia và tiến tới UNESCO công nhận di sản thế giới.

Như vậy, để phát huy giá trị truyền thống văn hóa biển đảo Việt Nam một cách bền vững, cần một hệ giải pháp toàn diện, đồng bộ và lâu dài, đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa bảo tồn và phát triển, giữa văn hóa và chính trị - kinh tế - quốc phòng. Việc xây dựng và phát huy văn hóa biển đảo không chỉ nhằm gìn giữ cội nguồn tinh thần của dân tộc, mà còn là một nội dung chiến lược trong công cuộc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời góp phần khẳng định và bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc trên biển trong thời đại mới.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin