Công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay

CT&PT - Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, công tác tuyên truyền và giáo dục lý luận chính trị luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng, là một bộ phận cấu thành trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn khẳng định: lý luận là “kim chỉ nam cho hành động”, là nền tảng tư tưởng dẫn dắt toàn bộ sự nghiệp cách mạng.

1. Quan điểm của Đảng về công táctuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị trong thời kỳ đổi mới

Trong công cuộc đổi mới, đặc biệt từ Đại hội VII (1991), Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Để toàn đảng, toàn dân đồng lòng với mục tiêu trên, Đảng nêu yêu cầu: “Tiếp tục bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối của Đảng. Bồi dưỡng tinh thần độc lập tự chủ, ý chí tự lực, tự cường, kết hợp với mở rộng hợp tác quốc tế, cần kiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Văn kiện Đại hội VII nhấn mạnh: “nâng cao trình độ và năng lực vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, góp phần xây dựng chủ trương, chính sách của Đảng, lý giải những vấn đề mới mà cuộc sống đặt ra. Đổi mới căn bản công tác giáo dục chính trị, lý luận”1.

Đến Đại hội VIII (1996), ngoài các nội dung bồi dưỡng, tuyên truyền về đường lối, chủ trương của Đảng, các vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thì Đảng còn yêu cầu tuyên truyền, giáo dục về “những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những kiến thức mới của thời đại”. Đồng thời, nêu bật: “trước hết hướng vào những vấn đề mới do cuộc sống đặt ra, làm rõ căn cứ khoa học của các giải pháp, dự báo các xu hướng phát triển, góp phần bổ sung, hoàn thiện đường lối của Đảng, làm cho ngày càng sáng tỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” ”, “bảo đảm sự thống nhất về chính trị và tư tưởng trong toàn Đảng”2.

Các kỳ Đại hội IX, X, XI, Đảng nhấn mạnh đến yêu cầu “đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giảng dạy và học tập lý luận”3, “tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng, tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước”4.

Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) Về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Đảng yêu cầu: “Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy và học lý luận chính trị gắn với ứng dụng thực tế, tăng cường kiểm tra và quản lý chặt chẽ chất lượng dạy và học”5. Đây là những yêu cầu căn cốt trong thực hiện đổi mới sáng tạo trong tổ chức giảng dạy ở trường Đảng.

Đại hội XIII (2021) của Đảng đã đánh giá: “Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được đẩy mạnh, nội dung, hình thức đa dạng, phong phú hơn. Tư duy lý luận của Đảng có bước phát triển. Hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận được đẩy mạnh, góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng... Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị được đổi mới cả về nội dung và phương pháp; tăng cường quản lý, kỷ luật trong giảng dạy, học tập, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng được nâng lên, từng bước khắc phục tình trạng lười học, ngại học lý luận chính trị, dạy và học hình thức”6.

Như vậy, giáo dục, tuyên truyền lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân là một nội dung quan trọng của công tác tư tưởng của Đảng. Những yêu cầu thể hiện trong các kỳ Đại hội, các nghị quyết của Đảng cho thấy nội dung ngày càng sâu rộng, yêu cầu ngày càng cụ thể, phù hợp và đáp ứng bối cảnh phát triển của đất nước. Đó là những căn cứ quan trọng cho việc đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị trong mỗi giai đoạn cách mạng.

2. Thực trạng công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị trong giai đoạn hiện nay
2.1. Bối cảnh và yêu cầu đặt ra

Bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam đang đứng trước những thời cơ và thách thức đan xen. Sự phát triển mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là truyền thông số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và mạng xã hội, đã làm thay đổi căn bản phương thức tiếp nhận, xử lý và lan tỏa thông tin của xã hội. Môi trường truyền thông hiện đại không còn đơn tuyến mà là môi trường đa chiều, phi trung gian, nơi mỗi cá nhân vừa là người tiếp nhận, vừa là người sản xuất thông tin.

Trong bối cảnh đó, công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị - vốn là lĩnh vực mang tính đặc thù, truyền thống chịu sự tác động trực tiếp, sâu rộng. Nhiệm vụ “bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” không chỉ diễn ra trên trận địa báo chí - xuất bản - trường học, mà còn trên không gian mạng, nơi diễn biến tư tưởng, xung đột giá trị và cạnh tranh hệ ý thức diễn ra gay gắt, tinh vi.

Sự phát triển của các nền tảng mạng xã hội (Facebook, TikTok, YouTube, X, v.v.) đã mở ra không gian giao tiếp mới nhưng cũng làm mờ ranh giới giữa thông tin chính thống và phi chính thống. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mạnh mẽ công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị theo hướng khoa học - hiện đại - hấp dẫn - thuyết phục, bảo đảm “đúng định hướng, trúng đối tượng, kịp thời và lan tỏa”.

Thực tiễn gần đây cho thấy, cùng với yêu cầu củng cố nền tảng tư tưởng, Đảng ta còn đặt nhiệm vụ tuyên truyền lý luận chính trị gắn với thực tiễn phát triển đất nước, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát huy sức mạnh con người và văn hóa Việt Nam, hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Như vậy, tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị hiện nay không chỉ là công tác “nội bộ”, mà đã trở thành nhiệm vụ chiến lược của quốc gia, nhằm giữ vững độc lập tư tưởng, thống nhất nhận thức, củng cố niềm tin xã hội, và tăng cường “sức đề kháng” trước những tác động đa chiều của toàn cầu hóa và truyền thông số.

2.1. Những kết quả nổi bật đạt được

Trong những năm qua, công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị đã được triển khai đồng bộ, toàn diện, với nhiều đổi mới về nội dung, phương thức, tổ chức và công nghệ. Có thể khái quát một số kết quả nổi bật sau:

(1) Công tác học tập, quán triệt và tuyên truyền nghị quyết của Đảng ngày càng nền nếp, hiệu quả.

Hằng năm, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở đã tổ chức hàng chục nghìn lớp học tập, quán triệt nghị quyết bằng nhiều hình thức: hội nghị trực tiếp, hội nghị trực tuyến, thảo luận nhóm, diễn đàn mở, các cuộc thi tìm hiểu trực tuyến về Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, v.v. Hình thức trực tuyến đã rút ngắn khoảng cách địa lý, tạo điều kiện cho đông đảo cán bộ, đảng viên tham gia, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.

Theo Ban Tuyên giáo Trung ương (2024), chỉ tính riêng trong năm 2023, có hơn 3,5 triệu lượt cán bộ, đảng viên tham gia học tập nghị quyết thông qua nền tảng trực tuyến. Nhiều địa phương như Quảng Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, và thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng mô hình “Học nghị quyết trực tuyến, kiểm tra trực tuyến”, giúp tăng cường tính chủ động, tự giác và giảm chi phí tổ chức.

Đặc biệt, việc đưa nghị quyết vào cuộc sống được quan tâm hơn trước. Nhiều cơ quan, đơn vị đã cụ thể hóa kết quả học tập nghị quyết thành chương trình hành động, kế hoạch công tác, phong trào thi đua, mô hình thực tiễn, gắn lý luận với hành động, tránh bệnh hình thức.

(2) Đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục lý luận chính trị.

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã chủ trì cải cách chương trình đào tạo cán bộ lý luận, rút ngắn thời gian học lý thuyết, tăng tỷ lệ thực hành, thảo luận, nghiên cứu tình huống; đồng thời triển khai hệ thống “Học viện điện tử” (e-Academy), cho phép học viên học trực tuyến, trao đổi tài liệu, thảo luận trực tuyến.

Các trường chính trị cấp tỉnh được nâng cấp cơ sở vật chất, chuẩn hóa chương trình giảng dạy theo Quy định số 11-QĐi/TW (2021) của Ban Bí thư, hướng tới mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”.

image-20240731161251-1-1761605650.jpeg
Hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng công tác lý luận chính trị trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay”

Ngoài ra, nhiều tỉnh, thành phố đã sáng tạo mô hình “Câu lạc bộ Lý luận trẻ”, “Diễn đàn sinh viên với Đảng”, “Tọa đàm Đảng trong trái tim tuổi trẻ”, qua đó khơi dậy niềm tin và tinh thần trách nhiệm của thế hệ mới trong học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

(3) Báo chí, xuất bản và truyền thông chính trị phát huy vai trò nòng cốt.

Báo chí, xuất bản chính trị là lực lượng tiên phong trên mặt trận tuyên truyền tư tưởng. Các ấn phẩm như Tạp chí Cộng sản, Nhân Dân, Tạp chí Lý luận Chính trị, Tạp chí Chính trị và Phát triển, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập trung tuyên truyền sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, phản bác kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch.

Nhiều chương trình như “Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống” (VTV1), “Tự hào Việt Nam” (VOV), “Khát vọng Việt Nam” (Tạp chí Cộng sản điện tử) đã thu hút hàng triệu lượt theo dõi, đặc biệt trong giới trẻ.

Về xuất bản, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã trở thành trung tâm xuất bản lý luận chính trị lớn nhất cả nước, trung bình mỗi năm phát hành gần 1.000 đầu sách về lý luận, chính trị, trong đó có nhiều ấn phẩm được chuyển đổi sang dạng số và audiobook, mở rộng khả năng tiếp cận tri thức chính trị của nhân dân.

(4) Mở rộng truyền thông chính trị trên không gian mạng.

Công tác tuyên truyền trên mạng xã hội được các cơ quan Đảng và hệ thống chính trị triển khai chủ động, bài bản. Nhiều Ban Tuyên giáo, tổ chức Đoàn, Hội đã thành lập các fanpage, kênh YouTube, TikTok nhằm lan tỏa thông tin tích cực, phản bác luận điệu sai trái. Theo thống kê của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương (2024), hiện có hơn 6.000 trang, nhóm và tài khoản mạng xã hội chính thống của hệ thống tuyên giáo, đạt tổng cộng trên 350 triệu lượt tương tác mỗi năm.

Đáng chú ý, mô hình “lực lượng 47” trong quân đội và “lực lượng 35” trong các cơ quan dân sự được tổ chức chặt chẽ, thực hiện hàng trăm nghìn bài viết, video, đồ họa phản bác kịp thời thông tin xấu độc, bảo vệ quan điểm của Đảng, củng cố lòng tin trong nhân dân.

(5) Đội ngũ cán bộ tuyên truyền - giảng viên lý luận chính trị được kiện toàn.

Đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên cấp Trung ương và địa phương được củng cố cả về số lượng và chất lượng. Nhiều giảng viên trẻ có khả năng ứng dụng công nghệ, xây dựng bài giảng trực tuyến, video giảng dạy, podcast lý luận, góp phần đổi mới phương pháp giáo dục chính trị.

Sự ra đời của mạng lưới “Giảng viên lý luận trẻ toàn quốc” từ năm 2021 đã trở thành một sáng kiến nổi bật, tạo diễn đàn trao đổi tri thức, nâng cao năng lực lý luận và kỹ năng truyền thông của đội ngũ làm công tác tư tưởng trong thế hệ mới.

2.2. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả quan trọng, công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị vẫn tồn tại không ít hạn chế cần được nhìn nhận khách quan.

(1) Nội dung còn nặng về lý thuyết, thiếu tính thực tiễn và sức hấp dẫn.

Một bộ phận tài liệu học tập lý luận vẫn còn khô khan, thiên về thuật ngữ hàn lâm, chưa gắn chặt với thực tiễn đời sống chính trị - xã hội. Các ví dụ minh họa, dữ kiện thực tế, mô hình điển hình còn ít; điều đó khiến người học, đặc biệt là thế hệ trẻ, khó tiếp nhận và chuyển hóa thành niềm tin, hành động.

Một số bài giảng, hội nghị học tập nghị quyết còn hình thức, đọc - chép, thiếu tương tác, chưa phát huy năng lực phản biện và sáng tạo của người học. Nhiều lớp học còn xem việc “học nghị quyết” như nghĩa vụ hành chính, không phải nhu cầu tự thân về tri thức chính trị.

(2) Phương thức tuyên truyền còn chậm đổi mới.

Dù đã có bước chuyển sang môi trường số, song phần lớn hoạt động tuyên truyền vẫn dừng ở truyền thông một chiều, ít sử dụng công cụ phân tích dữ liệu, thiếu tính lan tỏa và cá nhân hóa thông điệp. Các chiến dịch truyền thông chính trị đôi khi chưa đủ “thẩm mỹ truyền thông”, thiếu ngôn ngữ gần gũi với giới trẻ, trong khi các thế lực thù địch lại tận dụng tối đa yếu tố hình ảnh, âm thanh, cảm xúc để lôi kéo dư luận.

(3) Năng lực công nghệ và phản ứng nhanh trên không gian mạng còn yếu.

Trong cuộc chiến tư tưởng trên mạng xã hội, tốc độ phản ứng là yếu tố then chốt. Tuy nhiên, không ít cơ quan, đơn vị vẫn chậm phát hiện, chậm phản bác, thiếu thông tin đối trọng kịp thời trước các luận điệu xuyên tạc. Việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng còn rời rạc, thiếu cơ chế chia sẻ dữ liệu và thống nhất phản ứng truyền thông.

(4) Đội ngũ giảng viên, báo cáo viên chưa đồng đều về chất lượng.

Một số giảng viên lý luận còn hạn chế năng lực tư duy độc lập, kỹ năng công nghệ và ngoại ngữ; chưa kịp thời cập nhật tri thức mới về chính trị học, xã hội học, truyền thông, văn hóa chính trị toàn cầu. Công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng, đãi ngộ cán bộ lý luận chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; thiếu cơ chế khuyến khích nghiên cứu khoa học, sáng tạo phương pháp mới.

(5) Công tác phối hợp và đánh giá hiệu quả tuyên truyền còn lúng túng.

Các cơ quan tuyên giáo, báo chí, xuất bản, giáo dục, đoàn thể đôi khi chưa có cơ chế phối hợp đồng bộ, dẫn tới trùng lặp hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Hệ thống đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền vẫn chủ yếu định tính (số lượng bài viết, lớp học), chưa có công cụ lượng hóa tác động (thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi).

Tất cả những hạn chế này có nguyên nhân sâu xa từ: Tư duy quản lý công tác tư tưởng còn nặng hành chính, chậm đổi mới theo yêu cầu xã hội thông tin; Thiếu đầu tư tương xứng về nguồn lực, công nghệ, cơ sở dữ liệu cho lĩnh vực lý luận - tuyên truyền; Chưa coi trọng nghiên cứu khoa học chính trị ứng dụng, thiếu dự báo xu hướng tư tưởng xã hội.

2.3. Một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết

Từ thực tiễn trên, có thể rút ra bốn vấn đề lớn mà công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị cần đặc biệt quan tâm trong giai đoạn tới:

Thứ nhất, vấn đề thích ứng với môi trường truyền thông số.

Không gian mạng đã trở thành “mặt trận mới” của công tác tư tưởng. Tuy nhiên, năng lực số của đội ngũ cán bộ tuyên giáo còn hạn chế; nội dung chính trị chưa phù hợp với thói quen tiêu dùng thông tin ngắn, trực quan, giải trí cao. Vì vậy, chuyển đổi số trong tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị không chỉ là phương tiện kỹ thuật, mà là thay đổi tư duy lãnh đạo và mô hình vận hành công tác tư tưởng.

Thứ hai, vấn đề định vị lại vai trò của lý luận chính trị trong xã hội hiện đại.

Trong nền kinh tế tri thức, nhiều người trẻ có xu hướng coi lý luận chính trị là “xa rời thực tế”, “khó hiểu”. Vì thế, công tác lý luận cần khẳng định giá trị thực tiễn, tính khoa học, tính nhân văn và sức sống hiện đại của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần chuyển từ “dạy cho biết” sang “học để hiểu - tin - hành động”, từ truyền đạt khái niệm sang khơi dậy niềm tin và ý chí phấn đấu.

Thứ ba, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận và tuyên truyền viên thế hệ mới.

Trong bối cảnh cạnh tranh ý thức hệ, cán bộ lý luận không chỉ cần vững vàng chính trị mà còn phải là chuyên gia truyền thông, nhà tâm lý xã hội và người sáng tạo nội dung. Họ phải “nói được ngôn ngữ của thời đại”, hiểu cách thức lan truyền của thông tin số, có khả năng đối thoại và phản biện.

Do đó, đào tạo cán bộ lý luận cần theo hướng liên ngành, gắn với công nghệ, ngoại ngữ, kỹ năng truyền thông xã hội, để họ đủ năng lực “giữ trận địa tư tưởng” bằng công cụ của thế kỷ XXI.

Thứ tư, vấn đề kết hợp giữa tuyên truyền, giáo dục và hành động thực tiễn.

Tuyên truyền và giáo dục lý luận chỉ có hiệu quả khi gắn với đời sống. Lý luận phải được chứng minh bằng thực tiễn đổi mới, bằng thành tựu phát triển đất nước, bằng đời sống hạnh phúc của nhân dân. Cần biến các bài học chính trị thành “giá trị sống”, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường, tinh thần khởi nghiệp, sáng tạo trong mỗi người dân.

3. Giải pháp tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm chính trị của toàn hệ thống trong công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị.

Trước hết, cần xác định rõ rằng tuyên truyền và giáo dục lý luận chính trị không chỉ là nhiệm vụ của Ban Tuyên giáo các cấp, của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh hay các trường chính trị, mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị. Từng cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, tham gia và gương mẫu trong học tập, nghiên cứu lý luận.

Để làm được điều đó, cần tiếp tục thể chế hóa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác lý luận và tuyên giáo; đồng thời lồng ghép nội dung giáo dục chính trị - tư tưởng vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Việc đưa kết quả học tập lý luận vào tiêu chí đánh giá cán bộ, đảng viên sẽ góp phần nâng cao tính tự giác, thực chất của công tác này.

Hai là, đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương pháp tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị theo hướng hiện đại, hấp dẫn, thuyết phục.

Nội dung giáo dục lý luận cần được cập nhật kịp thời những thành tựu mới của đất nước, những vấn đề lý luận - thực tiễn nảy sinh trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cần chuyển từ “dạy cái Đảng có” sang “trao đổi những điều xã hội cần”, từ “thuyết giảng” sang “đối thoại”, từ “truyền đạt khái niệm” sang “khơi gợi tư duy phản biện và năng lực hành động”.

Đặc biệt, phải gắn lý luận với thực tiễn bằng các ví dụ sinh động, các mô hình phát triển thành công, các nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong đời sống. Các tài liệu lý luận cần ngắn gọn, trực quan, sử dụng ngôn ngữ gần gũi, dễ hiểu, có tính dẫn dắt cảm xúc và truyền cảm hứng.

Phương pháp tuyên truyền cần đa dạng hóa hình thức: phim tài liệu, đồ họa, podcast, tọa đàm, talkshow, các chiến dịch truyền thông chủ đề trên nền tảng số. Việc ứng dụng mô hình “kể chuyện chính trị” (political storytelling) kết hợp giữa lý luận và câu chuyện thực tiễn có sức lan tỏa cao, giúp lý luận trở nên “sống động” hơn trong đời sống.

Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền và giáo dục lý luận chính trị.

Cần coi chuyển đổi số không chỉ là phương tiện kỹ thuật, mà là phương thức mới của công tác tư tưởng. Trên cơ sở đó, xây dựng nền tảng học tập lý luận chính trị trực tuyến quốc gia, kết nối Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh với các trường chính trị địa phương, cơ quan tuyên giáo và hệ thống báo chí, xuất bản.

Phát triển hệ thống học liệu số mở, thư viện điện tử lý luận chính trị, cơ sở dữ liệu chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối Đảng, để cán bộ, đảng viên và nhân dân dễ dàng truy cập, học tập mọi lúc, mọi nơi.

Đồng thời, cần ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và phân tích dữ liệu lớn (Big Data) trong nắm bắt, dự báo diễn biến tư tưởng xã hội, phát hiện sớm các vấn đề nhạy cảm, các chiến dịch thông tin sai lệch trên mạng xã hội, qua đó giúp cơ quan tuyên giáo phản ứng kịp thời và hiệu quả.

Song song với đó, phải đào tạo kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ lý luận và tuyên truyền viên, giúp họ sử dụng thành thạo công cụ truyền thông hiện đại, sáng tạo nội dung phù hợp với đặc điểm tâm lý của người nghe, người xem trong thời đại mạng xã hội.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận, giảng viên và tuyên truyền viên có bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận, năng lực truyền thông hiện đại.

Đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo và giảng dạy lý luận chính trị là lực lượng nòng cốt bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì vậy, cần xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ “vừa hồng, vừa chuyên, vừa hiện đại”, có phẩm chất chính trị vững vàng, am hiểu lý luận, thành thạo công nghệ và có năng lực thuyết phục xã hội.

Cần rà soát, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lý luận theo hướng liên ngành, kết hợp giữa chính trị học - xã hội học - truyền thông - tâm lý học - công nghệ thông tin. Bên cạnh đó, phải có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, tạo môi trường sáng tạo, khuyến khích nghiên cứu khoa học, viết bài, xuất bản, tham gia các diễn đàn lý luận trong và ngoài nước.

Đặc biệt, cần chú trọng bồi dưỡng thế hệ giảng viên, tuyên truyền viên trẻ, hình thành “lớp cán bộ lý luận kế cận thời đại số” có khả năng lan tỏa tư tưởng Đảng bằng ngôn ngữ và phương thức hiện đại, gần gũi với giới trẻ - đối tượng chịu tác động mạnh nhất của truyền thông toàn cầu.

Năm là, tăng cường đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch bằng lý luận khoa học, lập luận thuyết phục và thông tin tích cực.

Đấu tranh tư tưởng trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi chuyển từ thế phòng thủ sang thế chủ động tấn công. Các lực lượng làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng cần kết hợp “ba mũi giáp công”: (1) chủ động phát hiện, bóc trần, phản bác luận điệu sai trái; (2) lan tỏa thông tin chính thống, tích cực; (3) củng cố “sức đề kháng” nhận thức trong xã hội thông qua giáo dục lý luận bền vững.

Để thực hiện hiệu quả, cần xây dựng mạng lưới cộng tác viên lý luận - truyền thông chính trị trên không gian mạng, kết nối các nhà khoa học, chuyên gia, giảng viên, nhà báo, KOLs chính thống, tạo thành “hệ sinh thái truyền thông chính trị tích cực”.

Ngoài ra, cần quan tâm đào tạo kỹ năng phản biện, viết bài phản bác, sử dụng ngôn ngữ hiện đại, có dẫn chứng, có tính nhân văn để thuyết phục, chứ không chỉ “bác bỏ” một cách khô cứng. 

Sáu là, hoàn thiện cơ chế phối hợp, kiểm tra, đánh giá và khuyến khích sáng tạo trong công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị.

Cần thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ quan báo chí, xuất bản và Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị - xã hội trong tổ chức hoạt động tuyên truyền, giáo dục lý luận.

Đồng thời, cần đổi mới cơ chế đánh giá hiệu quả công tác này, từ chỗ đo lường định tính (số lớp, số bài viết, số học viên) sang đo lường tác động thực chất đến nhận thức và hành vi. Cần có các chỉ số đánh giá tác động tư tưởng - chính trị, phản ánh mức độ lan tỏa, chuyển hóa nhận thức, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng.

Song song, khuyến khích đổi mới, sáng tạo trong tuyên truyền, giáo dục lý luận bằng cơ chế thi đua, khen thưởng, tôn vinh các tập thể, cá nhân có sáng kiến, công trình, sản phẩm truyền thông chính trị xuất sắc. Chính sự ghi nhận và khích lệ này sẽ tạo động lực lan tỏa, thúc đẩy phong trào “học và làm lý luận sáng tạo” trong toàn hệ thống chính trị.


1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 95.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1996, tr. 140.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr. 285.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 256.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 169.
 

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin