1. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, đề cao và thực hành sâu sắc nguyên tắc “nước lấy dân làm gốc”, hết mực “trọng dân” bởi vì sức mạnh của nhân dân là vô cùng to lớn, quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Để vận động quần chúng, làm cho nhân dân nghe, dân nhớ, dân hiểu, từ đó làm theo chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước thì tuyên tuyền được coi là một trong số những công cụ có tính “chiến lược” đặc biệt quan trọng.
Trên Báo Sự thật, số 79, từ ngày 26/6 đến ngày 09/7/1947 với bút danh A.G, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài với chủ đề “Người tuyên truyền và cách tuyên truyền”. Trong bài viết này, Người khẳng định: “Muốn thành công, phải biết cách tuyên truyền”1. Thành công ở đây được hiểu là thành công trong kháng chiến, thắng lợi trước đế quốc thực dân. Mục đích của tuyên truyền trước hết và trên hết là hướng đến việc làm cho quốc dân đồng bào hiểu được vì sao phải kháng chiến; kháng chiến có lợi thế nào, hại ra sao; tại sao lại phải trường kỳ chiến đấu, kháng chiến thì phải làm những công việc gì… Như vậy, nguyên tắc đầu tiên của tuyên truyền theo Bác đó là “mình phải hiểu rõ”, tuyên truyền cái gì, và vì sao phải tuyên truyền vấn đề hay nội dung này.
Có nhiều phương thức để thực hiện tuyên truyền, có thể là tuyên truyền miệng hoặc là tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng. Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, nếu thực hiện việc tuyên truyền miệng thì “Hai là phải biết cách nói”. Theo Người, kim chỉ nam cho việc “biết cách nói” thì tức là: (i) Bố cục bài nói rõ ràng có đầu, có đuôi, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được, từ ngữ phải giản đơn, rõ ràng, thiết thực. (ii) Văn phong phải trong sáng, chớ dùng những danh từ lạ, ít người hiểu. Chớ nói ra ngoài đề, chớ lắp đi lắp lại. (iii) Thời lượng ngắn gọn, khoa học, “chớ nói quá một tiếng đồng hồ, vì nói dài thì người ta chán tai, không thích nghe nữa”2. Muốn tránh những khuyết điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị rằng, trước khi nói, phải viết một dàn bài rõ ràng, rồi cứ xem đó mà nói. Đây là nguyên tắc thứ hai của tuyên truyền, luôn chỉn chu, cẩn trọng, tỉ mỉ trong việc xây dựng nội dung, bố cục và phong cách trình bày bài nói.
Đạo đức, lễ độ trong tuyên truyền là nguyên tắc thứ ba mà Người nhấn mạnh và rất mực đề cao. Bác từng phân tích: “Thường những anh em thanh niên, đến nói trong một cuộc mít tinh, mở miệng là: “Các đồng chí!”. Ba tiếng đó không phải là vô phép, nhưng vì không hợp hoàn cảnh, nên chướng tai. Một hôm, tôi đến dự một cuộc mít tinh, đã thấy một kinh nghiệm như vậy. Một cụ già nói khẽ với tôi: “Cụ Hồ là Chủ tịch cả nước, lại có tuổi, thế mà Cụ luôn luôn nói: Thưa các cụ, các ngài, v.v.. Đằng này, các cậu thanh niên bằng lứa cháu chúng mình, mà có ý muốn làm thầy chúng mình...”. Đó là một điều nên chú ý”. “Đối với các cụ già phải cung kính, với anh em, phải khiêm tốn, với phụ nữ, phải nghiêm trang, với nhi đồng, phải thân yêu, với cả mọi người, phải thành khẩn”3. Có lẽ, nguyên tắc này xuất phát từ chính bản chất truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc, thể hiện yếu tố “lễ nghĩa” - một phương thức giáo hóa con người trở thành người có học, văn minh.
Để có thể thực sự tuyên truyền hiệu quả, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người làm công tác tuyên truyền phải thực sự đi sâu, đi sát vào thực tiễn; phải nắm được hoàn cảnh, đời sống của nhân dân để tuyên truyền hiệu quả, đúng, trúng vấn đề. “Dân ở đó sinh hoạt thế nào, ta cũng phải sinh hoạt như họ. Nếu dân dậy sớm mà mình ngủ trưa, dân đang làm việc mà mình nằm ngủ lì, thì sẽ bị dân ghét, và ảnh hưởng xấu đến việc tuyên truyền”4.
Nguyên tắc thứ tư của công tác tuyên truyền vừa nêu thực sự phản ánh sự nhạy bén của người cán bộ cũng như phẩm chất đạo đức cách mạng.
Ngoài những nguyên tắc nêu trên, trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đề cập đến tính đổi mới và sự kiên trì, đòi hỏi đầu tư tâm huyết học hỏi, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ của người làm công tác tuyên truyền. “Đến một địa phương nào, cần phải đi thăm các cụ phụ lão, các người phụ trách, rồi đi thăm các nhà đồng bào để gây cảm tình, và để hiểu biết tình hình địa phương”5. Bởi vì đối tượng tuyên truyền rất đa dạng, có tính đặc thù riêng theo từng vùng, miền, trình độ, học vấn, giới tính, dân tộc nên tuyên tuyền không chỉ là hành động truyền tải thông tin một cách máy móc, dập khuôn mà hết sức linh hoạt, sinh động.
2. Truyền thông chính sách là một trong số những vấn đề hết sức quan trọng, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Có học giả cho rằng, truyền thông chính sách là những hoạt động trung tâm của các công chức chính phủ trong tổng thể quy trình chính sách. Hoặc là truyền thông chính sách được nhìn nhận như một phần của hoạt động trong các cơ quan Đảng, Nhà nước nhằm tuyên truyền về công tác điều hành xã hội, từ đó định hướng nâng cao nhận thức của công chúng, thiết lập sự đồng thuận chặt chẽ6. Tựu chung lại, ở Việt Nam có thể hiểu truyền thông chính sách là một phần quan trọng trong tổng thể công tác truyền thông của Đảng, Nhà nước. Truyền thông chính sách hướng đến các chủ thể bên ngoài xã hội, đặc biệt là các tầng lớp nhân dân và các đối tượng trực tiếp chịu tác động của chính sách để hình thành cầu nối trao đổi, góp ý giữa chính quyền và người dân. Truyền thông chính sách không phải là bài toán được đặt ra mang tính chất “1 chiều” mà luôn luôn có sự tương tác “2 chiều” để chính sách được thực hiện một cách nhất quán, hiệu quả; người dân có sự đồng thuận cao trong thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật chung. Vừa qua, Chỉ thị số 7/CT-TTg ngày 21/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác truyền thông chính sách đã nhận định: “Truyền thông chính sách là một nhiệm vụ, một chức năng quan trọng của cơ quan hành chính nhà nước các cấp. Báo chí và các loại hình truyền thông khác là kênh thông tin, là phương thức cơ bản, quan trọng để thực hiện việc truyền thông chính sách”.
Thời gian qua, thực trạng công tác truyền thông chính sách đã đạt được nhiều thành tựu tích cực. Truyền thông chính sách đã góp phần kịp thời tuyên truyền quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát hiện và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, những vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội. Truyền thông chính sách được quan tâm thực hiện như một khâu, công đoạn không thể thiếu trong chu trình chính sách. Đặc biệt, Chính phủ Việt Nam đã tiên phong trong đổi mới, ứng dụng công nghệ trong truyền thông chính sách. Đơn cử, có thể dẫn chứng ví dụ về Website Xây dựng chính sách, pháp luật của Chính phủ (https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn). Khi truy cập vào Website này, công dân có thể tiếp cận với các Module nội dung cụ thể, tương ứng với mục Chính sách mới, Tham vấn chính sách, Tọa đàm về chính sách, Chính sách và Cuộc sống, Hướng dẫn thực hiện chính sách và Lấy ý kiến của nhân dân về dự thảo văn bản quy phạm pháp luât. Bên cạnh tương tác trên nền tảng Website, Báo Điện tử Chính phủ cũng thiết lập các hệ thống thăm dò ý kiến và phản hồi liên kết với các ứng dụng nhắn tin phổ biến hiện nay như Zalo. Phương thức truyền thông chính sách mới này cho thấy ưu điểm về sự tương tác “2 chiều” và thuận tiện khi tiếp cận. Các chính sách mới sẽ được Chính phủ lấy ý kiến công khai, bạn đọc góp ý, hiến kế trực tiếp online.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu chung đã đạt được, truyền thông chính sách ở Việt Nam vẫn còn một số hạn chế, bất cập nhất định. Truyền thông chính sách chưa được hệ thống chính trị Việt Nam quan tâm đúng mức; chưa có đội ngũ làm công tác truyền thông chính sách chuyên nghiệp, hiện đại; thiếu kế hoạch, bị động trong truyền thông chính sách trên một số lĩnh vực, địa phương nhất định; thiếu nhiều kênh tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin liên quan đến chính sách hiện đại; chưa huy động được trí tuệ tập thể của nhân dân trong đóng góp xây dựng và hoàn thiện chính sách; chưa có hệ thống hiện đại, chuyên nghiệp, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương để phân tích, khai thác tối đa hệ dữ liệu, ý kiến phản ánh của dư luận xã hội để chỉ đạo, điều hành sát với tình hình thực tế.
3. Văn hóa là sức mạnh nội sinh, là nền tảng tinh thần quyết định sự tồn vong cũng như vị thế của một dân tộc. Lịch sử loài người chứng minh rằng, văn hóa chính là một trong số những nét độc đáo nhất để phân biệt các nền văn minh. Và chính văn hóa lại phản ánh đúng về trình độ “văn minh” của các tộc người. Nền tảng văn hóa được ví như sự bồi tụ của dòng sông, con người bền bỉ tích lũy, thẩm thấu, gạn lọc tinh hoa nhưng không bó hẹp mà lại có sự giao thoa, mở rộng góp phần vào “biển lớn” văn hóa mênh mông của thế giới. Văn hóa còn thể hiện tính giải phóng mạnh mẽ, cho phép con người tự do sáng tạo, thích ứng với hoàn cảnh thiên nhiên cũng như tập tục của từng dân tộc. Con người là chủ thể tạo ra văn hóa, như nhà chính trị và lãnh đạo tinh thần người Ấn Độ Mahatma Gandhi từng nói: Nền văn hóa của một quốc gia nằm trong trái tim và tâm hồn của nhân dân7.
Đối với văn hóa Việt Nam thì đây là nền văn hóa có sự bồi tụ từ hàng ngàn năm lịch sử, cũng như sự cộng hưởng giao thoa của các tộc người khác nhau. Mỗi một tộc người với những đặc trưng riêng về ngôn ngữ, trang phục, ẩm thực, nét sinh hoạt tạo thành một nước Việt Nam đa dạng văn hóa, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi đã từng chỉ rõ: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu/…/ Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”. Việt Nam tự hào có Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến; 8 di sản thế giới được UNESCO công nhận thì có 5 di sản văn hóa8, 15 di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam được UNESCO công nhận9… Có thể nói, hiện nay, 54 dân tộc anh em tạo thành khoảng 100 triệu người Việt Nam đã và đang tạo lập nên nền văn hóa hết sức đa dạng. Chính những nét văn hóa đó góp phần khẳng định hình ảnh, vị thế, con người Việt Nam trên bản đồ thế giới; nhất là văn hóa được nhận định trở thành ngành “công nghiệp” đóng góp quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân hiện nay.
Truyền thông chính sách về đa văn hóa là một bộ phận nằm trong tổng thể hoạt động truyền thông chính sách nói chung. Tuy nhiên, cũng có những điểm đặc thù riêng biệt. Trước hết, các nội dung, chương trình hay vấn đề về đa văn hóa, về dân tộc, con người là những nội dung chính được truyền thông. Về mặt chủ thể và đối tượng truyền thông thường trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến văn hóa, đa dạng văn hóa, nhất là có sự tương tác với các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số. Về phương thức truyền thông chính sách về đa văn hóa cũng rất đa dạng, phải “tùy biến, linh hoạt” phù hợp với điều kiện thực tiễn đời sống sinh hoạt, sản xuất của người dân, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện khó khăn; hoặc là khéo léo với các tình huống, vấn đề còn đôi chút “nhạy cảm”.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa dùng thuật ngữ truyền thông, tuy nhiên, nội hàm của vấn đề “tuyên truyền” trong tư tưởng Hồ Chí Minh như đã phân tích ở trên chứa đựng rất nhiều hàm ý sâu sắc, gắn liền với hoạt động truyền thông chính sách. Để nâng cao hiệu quả, chất lượng truyền thông chính sách, nhất là truyền thông chính sách về đa văn hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, có thể rút ra một số giá trị, bài học từ việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tuyên truyền như sau:
Thứ nhất, quán triệt nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương tiên quyết phải chú trọng truyền thông chính sách về đa văn hóa. Khắc phục tối đa tình trạng cán bộ không nắm vững chính sách, thiếu sự tôn trọng trong quá trình tổ chức truyền thông chính sách về đa văn hóa. Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông chính sách về đa văn hóa có trình độ, năng lực chuyên môn tốt; linh hoạt, nhạy bén, có phẩm chất đạo đức cách mạng “lễ độ” khi thực hiện truyền thông, phổ biến chính sách. Có thể thiết lập hệ quy tắc, quy chuẩn hành vi của cán bộ thực hiện công tác truyền thông; thiết lập hệ thống kênh tiếp nhận góp ý của người dân về truyền thông chính sách đa văn hóa. Định kỳ tổng hợp, phân tích, phát hiện vướng mắc thông qua phản hồi của đối tượng truyền thông.
Thứ hai, truyền thông chính sách về đa văn hóa phải gắn với thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, đi sâu, đi sát vào đời sống của quần chúng. Vốn dĩ văn hóa là phạm trù phức tạp và các chính sách về văn hóa có thể được hiểu sai hoặc hiểu chưa đầy đủ. Chính vì vậy, cơ quan đảm nhận vai trò truyền thông chính sách đa văn hóa và từng cán bộ truyền thông chính sách phải nắm chắc thực tiễn. “Thực tiễn” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm mục đích của chính sách hướng đến tác động điều gì, địa phương, khu vực, cộng đồng nào; nhóm đồng bào dân tộc nào sẽ chịu ảnh hưởng lớn của chính sách; phương thức truyền thông chính sách có thể khai thác ứng dụng công nghệ thông tin hay không, nếu thực hiện tuyên truyền miệng thì có thể sử dụng tiếng Kinh hay là tiếng của người dân tộc thiểu số. Thậm chí, trong một số trường hợp để tạo lập được sự uy tín, nhận được sự tin tưởng, đồng thuận của người dân thì phải “Dân ở đó sinh hoạt thế nào, ta cũng phải sinh hoạt như họ”10 như lợi huấn thị của Bác Hồ. Tính thực tiễn trong truyền thông chính sách còn thể hiện ở sự trung thực “không tô hồng chính sách” mà phải mô tả toàn diện các mặt ưu - nhược điểm; những tác động đa chiều đối với đối tượng chính sách.
Thứ ba, truyền thông chính sách về đa văn hóa là một hoạt động có tính chu trình, tức là không “phát một, ngắt quãng” mà luôn song hành từ khi hoạch định chủ trương, xây dựng, hoàn thiện, ban hành và thực thi chính sách. Do vậy, chủ thể truyền thông chính sách về đa văn hóa phải xây dựng được Kế hoạch truyền thông hằng năm và linh động trong trường hợp có yêu cầu cấp thiết đột xuất. Ngoài việc chủ thể truyền thông “phải biết cách nói” trong tuyên truyền miệng thì các công cụ hiện đại được ứng dụng trong quản trị truyền thông chính sách cũng phải thông minh, thực sự hữu ích. Truyền thông chính sách hiện đại vừa phải bao phủ “đi từng ngõ, gõ từng nhà” để lấy đủ ý kiến tham vấn chính sách; vừa phải có chiều sâu để phân tích, mổ xẻ nhanh, kịp thời xu hướng thông tin tích cực và tiêu cực, có lợi và bất lợi cho công tác chỉ đạo điều hành. Nghiên cứu hình thành mạng lưới kết nối thông tin truyền thông chính sách đồng bộ, mở rộng thành công từ mô hình Website Xây dựng chính sách, pháp luật của Chính phủ tới các địa phương, bộ, ngành. Hình thành thêm các mô hình tiếp nhận tham vấn chính sách qua các nền tảng online có nhiều người sử dụng hiện nay như Facebook, Zalo, Gmail… Chủ động ứng phó, thiết lập các Tổ công tác xử lý sự cố, khủng hoảng truyền thông đa văn hóa.
Thứ tư, tăng cường theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện hiệu quả truyền thông chính sách về đa văn hóa. Có cơ chế báo cáo và theo dõi kết quả thực hiện truyền thống chính sách về đa văn hóa trên nền tảng hệ dữ liệu online. Đối với những cơ quan, địa phương chưa thực hiện đúng thời hạn hoặc nội dung gì hệ thống sẽ hiển thị tình trạng rõ ràng, định kỳ báo cáo cơ quan chủ quản trung ương chỉ đạo kịp thời thực hiện. Có chế tài xử lý đối với các địa phương, bộ ngành không thực hiện nghiêm quy định về truyền thông chính sách về đa văn hóa để khắc phục tình trạng làm “chiếu lệ, qua loa, đại khái”. Xây dựng quy định, hành lang để đặt hàng cơ quan báo chí, truyền hình, truyền thông, xuất bản về việc truyền thông chính sách về đa văn hóa trên các phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó bao gồm cả nền tảng mạng xã hội.
Thành ngữ có câu: “Một bàn tay không thể vỗ thành tiếng”. Điều này rất đúng với quá trình hiện thực hóa chính sách công. Đặc biệt đối với lĩnh vực có nhiều yếu tố đa dạng, nhạy cảm như văn hóa thì truyền thống chính sách về đa văn hóa phải có sự đầu tư nghiên cứu, triển khai đồng bộ, hiệu quả, cẩn trọng, chính xác; kịp thời tiếp nhận góp ý, huy động tối đa đồng thuận xã hội trong toàn bộ chu trình chính sách để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát”. Do vậy nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tuyên truyền, từ đó vận dụng vào bối cảnh thực tiễn truyền thông chính sách đa văn hóa ở Việt Nam hiện nay là một việc làm hàm chứa nhiều ý nghĩa, nên được triển khai, quán triệt đồng bộ trong hệ thống chính trị.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 5, tr. 191.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 191.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 192.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 192.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 192.
6. Xem: TS. Nguyễn Tri Thức: Huy động nguồn lực cho truyền thông chính sách để tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 15/12/2023, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/851002/huy-dong-nguon-luc-cho-truyen-thong-chinh-sach-de-tang-cuong-hieu-luc%2C-hieu-qua-thuc-thi-chinh-sach.aspx#.
7. Xem Từ điển danh ngôn, https://www.tudiendanhngon.vn/danhngon/dnlitemid/5432
8. Quần thể di tích cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Khu di tích Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long, Thành nhà Hồ.
9. Nghệ thuật Bài chòi Trung bộ; Nhã nhạc Cung đình Huế; Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên; Dân ca Quan họ Bắc Ninh; Ca Trù; Hội Gióng ở đền Sóc và đền Phù Đổng; Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ; Nghệ thuật Đờn ca Tài tử Nam bộ; Hát ví-giặm Nghệ Tĩnh; Nghi lễ và trò chơi kéo co; Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ; Hát Xoan ở Phú Thọ; Thực hành Then Tày, Nùng, Thái; Nghệ thuật Xòe Thái; Nghề làm Gốm của người Chăm.
10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 192.