Phản bác một số luận điệu xuyên tạc mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân

CT&PT - Bài viết phân tích, phản bác các luận điệu sai trái và thù địch nhằm chia rẽ mối quan hệ đoàn kết giữa Đảng và nhân dân. Trên cơ sở chứng cứ lịch sử, dữ liệu thực tiễn và lập luận khoa học, bài viết khẳng định tính chính danh, chính nghĩa và bền vững của mối quan hệ đặc biệt này trong suốt hành trình cách mạng Việt Nam.

1. Tính cốt lõi của mối quan hệ Đảng - Nhân dân trong sự nghiệp cách mạng

Mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân là mối quan hệ nền tảng, mang tính nguyên lý trong hệ thống chính trị nước ta. Từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác lập một sứ mệnh lịch sử đặc biệt: đại diện cho lợi ích căn bản, chính đáng và lâu dài của nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam. Bản chất cách mạng của Đảng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh, là “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, dựa vào nhân dân để làm cách mạng, và cuối cùng là phục vụ nhân dân.” Mối quan hệ đó vừa là điều kiện tồn tại của Đảng, vừa là nguồn sức mạnh để Đảng hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng.

Ngay từ Chính cương vắn tắt năm 1930, Đảng đã nêu rõ mục tiêu cách mạng là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản.” Nói cách khác, mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài đều gắn liền với lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân. Suốt chiều dài lịch sử dân tộc, từ cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, Cách mạng Tháng Tám, hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đến sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế, mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhân dân không chỉ là một nguyên tắc bất di bất dịch mà còn là một thực tiễn sống động được kiểm chứng bằng máu, mồ hôi và cả sinh mạng của hàng triệu con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh vị trí trung tâm của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Người khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”1. Trong tư tưởng của Người, Đảng không phải là một tổ chức đứng trên nhân dân mà là bộ phận tiên phong của nhân dân lao động, đại diện trung thành cho lợi ích và khát vọng của nhân dân. Do đó, Đảng phải luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, hiểu dân, tin dân, trọng dân và có trách nhiệm phục vụ dân.

Mối quan hệ Đảng - Nhân dân không phải là mối quan hệ mang tính hình thức, nhất thời hay tuyên truyền, mà là mối quan hệ sống còn, cốt lõi đối với bản chất của chế độ. Đó là mối quan hệ biện chứng: Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ và Nhà nước là công cụ để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cơ chế này thể hiện rõ trong nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam, đồng thời được thể chế hóa trong Hiến pháp và các đạo luật quan trọng.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định rõ: nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử, là nguồn gốc sức mạnh quyết định của mọi thắng lợi. Những đường lối, chủ trương của Đảng chỉ trở thành hiện thực khi được nhân dân tin tưởng, đồng thuận và tham gia thực hiện một cách chủ động, tích cực. Bởi vậy, tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân là yêu cầu khách quan, thường xuyên, liên tục để giữ vững vai trò cầm quyền và uy tín chính trị của Đảng trong lòng xã hội.

Sự phát triển của mối quan hệ Đảng - Nhân dân không chỉ được thể hiện ở lòng tin, mà còn ở sự tham gia tích cực của nhân dân vào các quá trình chính trị - xã hội, từ giám sát, phản biện đến hiến kế xây dựng chính sách. Việc mở rộng dân chủ, lắng nghe ý kiến nhân dân, giải quyết những vấn đề bức thiết của dân sinh luôn là nhiệm vụ hàng đầu của mọi cấp ủy, tổ chức Đảng. Chính vì thế, xây dựng Đảng về đạo đức, phẩm chất, năng lực và bản lĩnh chính trị là cách tốt nhất để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, các yếu tố đa dạng hóa lợi ích, đa chiều hóa thông tin, phức tạp hóa nhu cầu xã hội đặt ra những yêu cầu mới cho mối quan hệ Đảng - Nhân dân. Đó không chỉ là mối quan hệ một chiều, mà là quan hệ đối thoại, hợp tác, cùng kiến tạo phát triển. Đảng không chỉ định hướng, dẫn dắt mà còn phải biết lắng nghe, điều chỉnh và tiếp thu có chọn lọc những phản ánh từ thực tiễn đời sống nhân dân. Khả năng nắm bắt và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh từ cơ sở, từ đời sống nhân dân chính là thước đo trình độ lãnh đạo và tính cách mạng của Đảng.

Tính bền vững của mối quan hệ Đảng - Nhân dân cũng chính là nền tảng vững chắc bảo vệ hệ thống chính trị trước những âm mưu “diễn biến hòa bình”, kích động “phi chính trị hóa quân đội”, hay luận điệu chia rẽ “Đảng - dân - quân” từ các thế lực thù địch. Bởi chỉ khi lòng dân quy tụ, niềm tin được bồi đắp và mối liên hệ giữa Đảng và nhân dân không ngừng được củng cố bằng những hành động cụ thể, thiết thực thì hệ thống chính trị mới có đủ sức mạnh nội sinh để vượt qua mọi thách thức.

Tóm lại, mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân không chỉ là giá trị truyền thống, mà còn là nhân tố sống còn, nền tảng cốt lõi của mọi thắng lợi trong quá trình cách mạng. Việc nhận diện đúng bản chất mối quan hệ này là tiền đề để phản bác các luận điệu xuyên tạc, đồng thời nâng cao bản lĩnh chính trị và ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.

2. Những luận điệu xuyên tạc và thủ đoạn chia rẽ Đảng với nhân dân

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông số đã làm thay đổi sâu sắc môi trường truyền thông và công tác tư tưởng. Đây là môi trường thuận lợi để các thế lực thù địch lợi dụng phát tán các quan điểm sai trái, phản động nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó trọng điểm là xuyên tạc, bóp méo mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.

Một trong những luận điệu được lặp đi lặp lại là “Đảng xa rời nhân dân” (?!), “Đảng không đại diện cho lợi ích của nhân dân”(?!), hoặc “Đảng chỉ vì quyền lợi của một nhóm người”(?!). Thủ đoạn này dựa vào việc khai thác những hiện tượng tiêu cực, sai phạm của một số cán bộ, đảng viên để quy chụp cho cả Đảng, làm lu mờ bản chất cách mạng và vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đây là một hình thức đánh tráo khái niệm rất nguy hiểm: từ cái sai của cá nhân đánh đồng với lỗi hệ thống, từ đó cổ súy cho tâm lý hoài nghi, thờ ơ chính trị trong quần chúng.

Bên cạnh đó, một số luận điệu phản động còn tung ra những thông tin sai lệch, như “Đảng áp đặt, không cho nhân dân tham gia giám sát, phản biện”(?!); “Đảng độc quyền chân lý”(?!); hoặc “cơ chế một đảng lãnh đạo là cản trở dân chủ, nhân quyền”(?!)… Các quan điểm này không chỉ sai lệch về nhận thức lý luận chính trị mà còn cố tình phủ nhận đặc điểm lịch sử - văn hóa - xã hội của Việt Nam, nơi mà mô hình Đảng lãnh đạo toàn diện được nhân dân tin tưởng trao quyền và được thể hiện rõ ràng trong Hiến pháp và thực tiễn chính trị.

Thủ đoạn xuyên tạc còn thể hiện ở việc khai thác các vụ việc khiếu kiện phức tạp, các điểm nóng xã hội, rồi gán ghép trách nhiệm một cách phiến diện cho các cơ quan lãnh đạo, thổi phồng mâu thuẫn giữa người dân với chính quyền, giữa quyền lực công với lợi ích dân sinh. Trong một số trường hợp, các thế lực phản động còn lợi dụng danh nghĩa “bảo vệ dân quyền” để kêu gọi biểu tình, tụ tập trái phép, kích động bạo lực, gây mất ổn định an ninh - chính trị và trật tự xã hội.

Đặc biệt, trên mạng xã hội và một số nền tảng xuyên biên giới, nhiều đối tượng còn giả mạo danh nghĩa “cán bộ nghỉ hưu”, “nhà báo độc lập”, “trí thức phản biện” để phát tán các nội dung công kích Đảng, tuyên truyền về “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, hoặc mượn danh “phản biện xã hội” để che giấu mục tiêu chống phá. Họ lợi dụng một số bất cập trong chính sách, sự chậm trễ trong phản hồi các nguyện vọng chính đáng của người dân để cổ súy tâm lý bài bác, phê phán không mang tính xây dựng.

Không dừng lại ở đó, các tổ chức phản động ngoài nước còn tài trợ, huấn luyện, cung cấp công nghệ, kỹ thuật số cho các nhóm “truyền thông lề trái” để tiến hành chiến tranh tâm lý, truyền thông bẩn và xuyên tạc có hệ thống. Mục tiêu tối hậu của các hoạt động này là làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, từng bước vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng trong đời sống chính trị - xã hội.

Những luận điệu và thủ đoạn nói trên, dù tinh vi đến đâu, cũng đều mang bản chất chống phá, phản động. Chúng không xuất phát từ lợi ích chân chính của nhân dân mà từ mưu đồ chính trị đen tối nhằm lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng, phá hoại nền tảng tư tưởng của chế độ và gây bất ổn cho tiến trình phát triển đất nước. Nhận diện rõ và phản bác kịp thời các luận điệu sai trái ấy không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan tuyên truyền mà còn là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Cần nhấn mạnh rằng, một Đảng cách mạng chân chính không sợ phê bình, càng không ngại đối thoại, phản biện. Tuy nhiên, phản biện phải đặt trên tinh thần xây dựng, vì lợi ích chung, vì sự phát triển đất nước, chứ không thể núp bóng “tự do ngôn luận” để công khai tấn công nền tảng của chế độ. Phân biệt rạch ròi giữa phản biện tích cực với phản động, giữa góp ý thiện chí với phá hoại có chủ đích là điều kiện tiên quyết để giữ gìn sự lành mạnh của đời sống tư tưởng - chính trị.

Trong bối cảnh mới, khi thông tin lan truyền nhanh chóng, nhận thức xã hội dễ bị phân hóa, việc củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân phải đi liền với nỗ lực nâng cao “sức đề kháng chính trị” của quần chúng. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, nắm bắt dư luận xã hội, chủ động giải thích, thuyết phục, làm rõ sự thật, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng lời nói, hành động và cả sự gương mẫu trong lối sống, đạo đức, công tác.

Việc phản bác các luận điệu xuyên tạc không chỉ dừng ở mức độ phê phán mà còn cần kết hợp với việc làm tốt công tác dân vận, tăng cường đối thoại, công khai thông tin, phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với tổ chức Đảng và hệ thống chính trị. Bởi chỉ khi nhân dân thật sự cảm thấy được lắng nghe, được tôn trọng, được đồng hành, thì mọi âm mưu chia rẽ sẽ tự bị vô hiệu hóa từ chính trong lòng xã hội.

3. Cơ sở lịch sử và thực tiễn của mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân

Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân không phải là một khái niệm trừu tượng, càng không phải là sản phẩm của tuyên truyền một chiều. Ngược lại, đây là một thực tiễn được khẳng định bằng lịch sử hàng chục năm đấu tranh cách mạng, kháng chiến giành độc lập dân tộc và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Trong quá trình ấy, nhân dân luôn là chủ thể trung tâm, là nền tảng của mọi thắng lợi; còn Đảng là tổ chức chính trị tiên phong, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân.

Ngay từ khi thành lập vào năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn con đường cách mạng vô sản, đặt mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tư tưởng này được cụ thể hóa trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng, trong đó xác định lực lượng cách mạng là công - nông - trí thức, là quần chúng nhân dân bị áp bức, bóc lột. Từ đây, Đảng xây dựng niềm tin chính trị và dựa vào sức mạnh của nhân dân để tiến hành các cao trào đấu tranh mạnh mẽ như phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931), các cuộc vận động đấu tranh chống phát xít, đòi dân sinh dân chủ (1936 - 1939), cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đưa nước ta bước sang kỷ nguyên độc lập.

Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quan hệ Đảng - Nhân dân càng được tôi luyện vững chắc. Lực lượng nhân dân đông đảo đã tự nguyện, bền bỉ tham gia kháng chiến, đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh rằng: “Không có dân thì Đảng không có lực lượng, cách mạng không thể thành công.” Trong mọi giai đoạn, từ căn cứ địa Việt Bắc đến chiến dịch Điện Biên Phủ, từ đường mòn Hồ Chí Minh đến chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, mỗi chiến thắng đều là kết tinh của lòng dân hướng Đảng, niềm tin nhân dân dành cho Đảng.

Ngay cả trong những thời kỳ gian khổ nhất của chiến tranh, nạn đói hoành hành, bom đạn kẻ thù giội xuống ác liệt, nhân dân vẫn một lòng đi theo Đảng. Niềm tin đó không phải là mù quáng, mà được hình thành qua thực tiễn thấy rõ Đảng là lực lượng duy nhất bảo vệ quyền lợi của họ, chiến đấu vì cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Đó là minh chứng không thể phủ nhận cho sự gắn bó máu thịt, bền chặt giữa Đảng với nhân dân.

Sau ngày thống nhất đất nước, đặc biệt từ công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân tiếp tục được củng cố và phát triển trong điều kiện mới. Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo quá trình đổi mới toàn diện, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao. Các chính sách phát triển giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới… đều thể hiện rõ định hướng vì nhân dân, vì sự tiến bộ xã hội.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi các luồng thông tin đa chiều và xung đột lợi ích ngày càng phức tạp, Đảng ta không ngừng hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ”. Từ việc ban hành các nghị quyết như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đến Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, Đảng ngày càng mở rộng và cụ thể hóa quyền làm chủ của nhân dân. Các hoạt động tiếp xúc cử tri, phản biện chính sách, tham vấn cộng đồng, giám sát xã hội… ngày càng đi vào thực chất, phản ánh chiều sâu dân chủ trong đời sống chính trị.

Thực tiễn gần đây cho thấy, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, thiên tai, khủng hoảng kinh tế, sự tin tưởng, đồng lòng của nhân dân chính là yếu tố quyết định giúp Đảng và Nhà nước vượt qua khó khăn, giữ vững ổn định xã hội. Hàng triệu người dân tham gia chống dịch, ủng hộ vật chất, tinh thần cho lực lượng tuyến đầu; hàng ngàn tổ chức cá nhân thiện nguyện lan tỏa giá trị nhân văn cao cả… Tất cả là biểu hiện sinh động cho mối quan hệ cộng sinh, cộng đồng trách nhiệm giữa Đảng và nhân dân.

Mặt khác, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng phát động và trực tiếp chỉ đạo đã củng cố mạnh mẽ niềm tin trong nhân dân. Những vụ việc lớn như vụ AVG, Việt Á, FLC, Vạn Thịnh Phát… được xử lý nghiêm minh, khẳng định quyết tâm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, cho thấy Đảng luôn nỗ lực tự làm trong sạch đội ngũ, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân.

Tất cả những minh chứng nêu trên là cơ sở thực tiễn thuyết phục, cho thấy mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhân dân không chỉ là khẩu hiệu mà là một thực tế lịch sử - chính trị sâu sắc. Đó là mối quan hệ bền vững, được xây dựng bằng máu, mồ hôi, niềm tin và kỳ vọng của cả một dân tộc. Đó là cội nguồn sức mạnh để đất nước ta tiếp tục vững bước trong công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập.

4. Phản bác các quan điểm sai trái phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhân dân

Một trong những thủ đoạn cơ bản của các thế lực thù địch là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc rằng mô hình một đảng là trái với quy luật phát triển, cản trở dân chủ, và không phù hợp với xã hội hiện đại. Các luận điệu này thường được ngụy trang dưới lớp vỏ học thuật hoặc các cụm từ như “xã hội dân sự”, “đa nguyên chính trị”, “tam quyền phân lập”, “tự do báo chí”... nhằm dẫn dắt dư luận đến việc hoài nghi, từ đó phủ định vai trò cầm quyền của Đảng.

Tuy nhiên, trên phương diện lý luận chính trị và thực tiễn lịch sử, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là một đặc quyền áp đặt mà là sự lựa chọn của lịch sử và của chính nhân dân. Đảng được nhân dân trao quyền lãnh đạo thông qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, thông qua sự gắn bó, trung thành và cống hiến không ngừng nghỉ cho lợi ích dân tộc và nhân dân. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Nhân dân đã lựa chọn Đảng, giao cho Đảng sứ mệnh lãnh đạo và đòi hỏi Đảng phải xứng đáng với sự lựa chọn đó.”

Trên thực tế, hệ thống chính trị nước ta đã thể hiện rõ nguyên lý “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Đây không phải là mối quan hệ độc đoán mà là mối quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực. Nhân dân thực sự làm chủ thông qua quyền bầu cử, ứng cử, giám sát và phản biện xã hội; thông qua báo chí, mạng xã hội, thông qua các thiết chế dân chủ cơ sở. Những cuộc bầu cử quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp với tỷ lệ cử tri đi bầu cao và số lượng ứng cử viên đa dạng cho thấy tinh thần dân chủ đang được phát huy mạnh mẽ.

Cần nhấn mạnh rằng, dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta xây dựng là dân chủ vì con người, cho con người và do con người làm chủ - khác biệt về bản chất với mô hình dân chủ hình thức, dân chủ tư sản. Trong khi đó, các luận điệu đòi “đa đảng” thường phớt lờ hiện thực rằng tại nhiều quốc gia theo thể chế đa đảng, xung đột lợi ích, phân hóa xã hội, khủng hoảng chính trị và bất ổn diễn ra liên miên. Đa đảng không đồng nghĩa với dân chủ thực chất; thậm chí, trong nhiều trường hợp, còn dẫn đến tình trạng các đảng phái tranh giành quyền lực, đặt lợi ích cục bộ lên trên lợi ích quốc gia – dân tộc.

Mặt khác, những người phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng thường lợi dụng sai phạm cá biệt của một số cán bộ để quy kết cho toàn bộ hệ thống chính trị. Đây là sự đánh tráo bản chất giữa cái sai của con người cụ thể và tính chính danh của tổ chức. Đảng ta luôn thẳng thắn nhìn nhận sai lầm, chủ động chỉnh đốn và đổi mới để không ngừng nâng cao năng lực, bản lĩnh, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Những đợt xử lý nghiêm minh các vụ việc tham nhũng, suy thoái vừa qua là minh chứng sinh động cho bản lĩnh tự sửa chữa, tự hoàn thiện, điều mà không phải tổ chức cầm quyền nào cũng dám làm.

Cũng cần thấy rằng, sự phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng là sự phủ nhận luôn cả những thành tựu phát triển vượt bậc mà Việt Nam đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị bao vây cấm vận, đến nay Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, là một trong những nền kinh tế năng động của châu Á, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Thành tựu đó là sản phẩm của cả dân tộc, nhưng trước hết là kết quả của đường lối lãnh đạo đúng đắn, bản lĩnh và sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Do vậy, mọi nỗ lực phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng thực chất là nhằm làm xói mòn lòng tin của nhân dân, từng bước lật đổ nền tảng chính trị của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Phản bác các quan điểm sai trái ấy đòi hỏi phải nâng cao cảnh giác chính trị, củng cố nền tảng tư tưởng, lý luận, đồng thời tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động.

5. Những giải pháp củng cố và phát huy mối quan hệ Đảng - Nhân dân trong tình hình mới

Bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, việc củng cố và phát huy mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân càng trở nên cấp thiết. Đây không chỉ là vấn đề lý luận - chính trị, mà còn là đòi hỏi thực tiễn để giữ vững niềm tin, tăng cường sự đồng thuận xã hội và bảo đảm cho sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước.

Thứ nhất, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là giải pháp căn bản. Đảng chỉ có thể giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo khi thật sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần được thực hiện thường xuyên, quyết liệt, toàn diện theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII và Kết luận số 21-KL/TW. Đặc biệt, cần đẩy mạnh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng.

Thứ hai, tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, đạo đức cách mạng, ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp vừa trước mắt, vừa lâu dài để xây dựng hình ảnh người cán bộ, đảng viên “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân” như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó, đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải nêu gương, tiên phong về đạo đức, lối sống, về tinh thần “nói đi đôi với làm”.

Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác dân vận của hệ thống chính trị, bảo đảm thực chất phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Công tác dân vận không chỉ dừng ở việc tuyên truyền, vận động mà phải gắn với giải quyết kịp thời, hiệu quả những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong lắng nghe, phản ánh và giám sát hoạt động của hệ thống chính trị.

Thứ tư, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa đi đôi với tăng cường kỷ cương, kỷ luật. Đảng cần tiếp tục cụ thể hóa và thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân thông qua cải cách hành chính, minh bạch hóa thông tin, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động quản lý - điều hành. Đồng thời, chú trọng bảo vệ quyền tiếp cận thông tin chính thống, nâng cao chất lượng báo chí cách mạng và truyền thông chính trị trong việc phản ánh tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân một cách trung thực, khách quan, kịp thời.

Thứ năm, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về mối quan hệ Đảng - Nhân dân trong bối cảnh mới. Từ đó, bổ sung, phát triển nhận thức khoa học và đề xuất các giải pháp khả thi về xây dựng Đảng gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Công tác lý luận phải đi trước một bước, vững chắc về tư tưởng, sâu sắc về lập luận và nhạy bén với các vấn đề thực tiễn đặt ra.

Thứ sáu, cần xây dựng cơ chế phản hồi, giải trình trách nhiệm công khai giữa tổ chức Đảng, chính quyền với nhân dân. Mỗi cấp ủy, chính quyền cần định kỳ đối thoại với nhân dân, lắng nghe và xử lý phản ánh, kiến nghị. Sự thẳng thắn, cầu thị và minh bạch chính là “liều vaccine” hiệu quả chống lại các luận điệu xuyên tạc, chống phá từ bên ngoài.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, Đảng cũng cần chủ động nắm bắt, định hướng dư luận xã hội trên không gian mạng. Phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo và cả người dân yêu nước trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Kết luận

Mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân là quy luật tồn tại và phát triển của cách mạng Việt Nam. Việc phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc mối quan hệ này là nhiệm vụ quan trọng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, củng cố niềm tin xã hội và giữ gìn sự ổn định chính trị - xã hội đất nước. Trong mọi hoàn cảnh, chỉ khi Đảng không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, gắn bó mật thiết và hành động vì lợi ích chính đáng của nhân dân thì không thế lực nào có thể chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.


1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 5, tr. 556.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin