CT&PT - Quản lý phát triển xã hội hướng đến mục tiêu điều tiết các quan hệ xã hội, hoàn thiện các thiết chế xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm cho con người phát triển toàn diện. Nhận thức sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của phát triển xã hội bền vững và quản lý phát triển xã hội đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục đưa ra hệ quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp nhằm quản lý phát triển xã hội bền vững trong bối cảnh mới.
Khái niệm quản lý phát triển xã hội nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học ở Việt Nam. Theo tác giả Doãn Hùng: “Quản lý phát triển xã hội là sự tác động có chủ đích, có hệ thống của nhà nước và các tổ chức ngoài nhà nước nhằm xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách huy động và phân bổ các nguồn lực để điều chỉnh cơ cấu xã hội, kiểm soát biến đổi xã hội, thực hiện các đảm bảo xã hội, giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội liên quan trực tiếp đến an sinh của cá nhân và cộng đồng, góp phần phát triển kinh tế và văn hóa, giữ vững ổn định chính trị, xây dựng khối đoàn kết - đồng thuận xã hội, bảo vệ và tái tạo môi trường sinh thái”1. Tác giả Đoàn Minh Huấn cho rằng: “Quản lý phát triển xã hội là sự tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý đến khách thể (con người, cộng đồng, các quan hệ xã hội, hoạt động xã hội, cơ cấu xã hội, chức năng xã hội...) nhằm mục tiêu phát triển xã hội bền vững”2.
Từ các quan niệm trên về quản lý phát triển xã hội, xuất phát từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, theo tôi, quản lý phát triển xã hội là sự tác động có chủ đích, định hướng, tổ chức bằng quyền lực Nhà nước đối với quá trình phát triển xã hội nhằm bảo đảm mục tiêu và yêu cầu phát triển xã hội bền vững.
Quản lý phát triển xã hội dù được tiếp cận theo ý nghĩa nào cũng đều thể hiện ý chí, nguyện vọng, lợi ích của toàn thể nhân dân, của quốc gia, dân tộc, trong đó, Nhà nước là chủ thể quan trọng, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp là nòng cốt, nhân dân là chủ thể quyết định. Nhà nước xây dựng thể chế, thiết chế quản lý xã hội một cách khoa học, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp làm nòng cốt vận động, hướng dẫn, tạo điều kiện để phát huy quyền làm chủ, quyền tự quản xã hội của nhân dân.
Quản lý phát triển xã hội tác động tích cực đến đời sống xã hội, điều tiết các quan hệ xã hội, hoàn thiện các thiết chế xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm cho con người phát triển toàn diện. Quản lý phát triển xã hội hướng vào các nhiệm vụ cốt lõi: “1- Phát triển hài hòa cơ cấu xã hội (cơ cấu các giai tầng xã hội; cơ cấu dân số, dân cư, dân tộc, tôn giáo, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp,…); 2- Định hướng, kiểm soát các biến đổi xã hội (phân tầng xã hội, di động xã hội,…); 3- Thực hiện các bảo đảm xã hội (an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, hòa nhập và tái hòa nhập xã hội,…); 4- Thực thi chính sách xã hội phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực, địa bàn,… nhằm hài hòa quan hệ xã hội, quan hệ lợi ích; 5- Xử lý các vấn đề xã hội nảy sinh (bất bình đẳng xã hội, rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội,…), bảo đảm sự đồng thuận xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người”3.
Quản lý phát triển xã hội bền vững là quá trình quản lý phát triển xã hội hướng tới tính bền vững, tức là trong mục tiêu và chính sách, không chỉ quan tâm đến các thành quả của tiến bộ xã hội mà còn đặc biệt chú ý đến khía cạnh gắn kết, bảo đảm sự tương thích đồng bộ giữa cải thiện tiến bộ xã hội với các thành quả của phát triển kinh tế.
Nhận thức sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của phát triển xã hội bền vững và quản lý phát triển xã hội đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức xã hội lành mạnh, văn minh; chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng dân số, gắn dân số với phát triển; quan tâm đến mọi người dân, bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập, thực hiện tốt phúc lợi xã hội, an sinh xã hội. Không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”4. Kết quả này được thể hiện qua các khía cạnh sau:
Một là, Việt Nam đã đẩy mạnh thực hiện các chính sách an sinh xã hội, chính sách bảo hiểm xã hội được mở rộng, tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội năm 2020 đạt 32,7%. Mở rộng diện đối tượng hưởng trợ cấp xã hội. Hằng năm, Nhà nước đã hỗ trợ hàng chục vạn tấn gạo cho các địa phương, người nghèo, người bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lụt và huy động hàng nghìn tỉ đồng để hỗ trợ người nghèo, các đối tượng bảo trợ xã hội. Trong bối cảnh toàn xã hội chịu tác động nặng nề của đại dịch Covid-19, Nhà nước đã có nhiều biện pháp hỗ trợ người dân, người lao động như trợ cấp tiền, cung cấp lương thực, thực phẩm cho các đối tượng yếu thế trong xã hội.
Hai là, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 được triển khai mạnh mẽ, chuyển từ cách tiếp cận đơn chiều sang đa chiều, tập trung vào nhóm, hộ nghèo nhất. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước đã giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống dưới 3% vào năm 2020, bình quân giai đoạn 2016-2020 giảm trên 1,4%/năm. Cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các huyện nghèo, xã nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được tăng cường. Đời sống người dân không ngừng được cải thiện, tạo sinh kế và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Ba là, chế độ, chính sách đối với người có công được mở rộng về đối tượng thụ hưởng với mức trợ cấp được nâng lên hằng năm, đặc biệt là tập trung giải quyết hồ sơ tồn đọng. Công tác phát triển nhà ở cho người dân được đặc biệt quan tâm, nhất là cho người có công, các đối tượng chính sách và người có thu nhập thấp. Đến nay, cả nước có trên 9,2 triệu người có công, trong đó có gần 1,4 triệu người có công đang hưởng chế độ ưu đãi hằng tháng; trên 500 nghìn thân nhân người có công đang được hưởng trợ cấp tiền tuất hằng tháng. Thực hiện hỗ trợ nhà ở cho hơn 335,8 nghìn hộ người có công; hỗ trợ nhà ở cho hơn 181,4 nghìn hộ nghèo ở nông thôn và các vùng thường xuyên bị bão, lụt; xây dựng hơn 6 triệu m2 nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp tại đô thị và công nhân khu công nghiệp5.
Bốn là, thực hiện tốt các quyền trẻ em. Bên cạnh đó, công tác giáo dục kiến thức, kỹ năng bảo vệ trẻ em; phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp cho trẻ em là nạn nhân của bạo lực, xâm hại, đặc biệt là xâm hại tình dục được chú trọng; đã kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi xâm hại trẻ em. Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại cộng đồng cũng từng bước được cải thiện.
Năm là, công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về bình đẳng giới được triển khai rộng khắp từ Trung ương tới địa phương, bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Công tác phòng, chống mại dâm và cai nghiện ma túy được tăng cường. Thực hiện chuyển đổi các cơ sở cai nghiện ma túy; dạy nghề, hỗ trợ tạo việc làm cho hàng nghìn lượt người sau cai nghiện.
Sáu là, hệ thống chính sách dân tộc được hoàn thiện, đầy đủ hơn, bao phủ toàn diện các lĩnh vực, phân cấp khá triệt để cho các địa phương tổ chức thực hiện; đã tích hợp một số chính sách, khắc phục tình trạng dàn trải, chồng chéo về chính sách. Kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng, từng bước hoàn thiện đã góp phần thay đổi diện mạo vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được cải thiện. Tình hình tôn giáo ổn định; đa số chức sắc, chức việc và đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, góp phần đấu tranh, phản bác luận điệu xuyên tạc, vu cáo chính quyền, vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo.
Tuy nhiên, cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, quản lý phát triển xã hội và giải quyết một số vấn đề xã hội tại Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức, chưa được kết hợp đồng bộ, chặt chẽ trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa; thể chế quản lý xã hội còn nhiều hạn chế; tình trạng gia tăng tội phạm, tệ nạn, tiêu cực, mâu thuẫn xã hội,... ở một số nơi chậm được khắc phục, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Công tác giảm nghèo chưa bền vững, chưa có giải pháp để xử lý hữu hiệu vấn đề phân hóa giàu - nghèo, gia tăng bất bình đẳng về thu nhập, kiểm soát và xử lý các mâu thuẫn, xung đột xã hội. Chất lượng dịch vụ y tế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, có mặt còn bất cập. Chính sách tiền lương, thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, phúc lợi xã hội có mặt còn hạn chế; thụ hưởng của người dân từ thành tựu phát triển của đất nước chưa hài hòa6.
Trong những năm tới, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ đan xen khó khăn, thách thức; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã nêu nhiệm vụ, giải pháp lớn về quản lý phát triển xã hội: “Xây dựng, thực hiện các chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội; có các giải pháp quản lý hiệu quả để giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, ngăn chặn, giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc, những mâu thuẫn có thể dẫn đến xung đột xã hội. Trong xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu - nghèo, bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội bền vững”7. Kế thừa quan điểm từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII và để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đưa đất nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ trọng tâm: “Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân. Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững. Phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại. Bảo đảm cung cấp và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là đối với người nghèo, người yếu thế trong xã hội, quan tâm chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Nâng cao chất lượng dân số; tận dụng hiệu quả cơ hội thuận lợi từ cơ cấu dân số vàng; chủ động thích ứng với xu thế già hóa dân số. Tạo môi trường và điều kiện để phát triển thị trường lao động đồng bộ, hiện đại, linh hoạt, thống nhất, hội nhập và hiệu quả”8.
Trong thời gian tới, để tạo sự chuyển biến trong quản lý phát triển xã hội bền vững, cần tập trung thực hiện các nội dung sau:
Thứ nhất, tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người. Đồng thời, tiếp tục triển khai đồng bộ, toàn diện các mục tiêu kinh tế, tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường. Cùng với đó, đổi mới phân bổ nguồn lực hợp lý để nâng cao hiệu quả phát triển xã hội. Xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế, chính sách phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội bền vững, hài hòa.
Thứ hai, xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Kết hợp đồng bộ giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội, quan tâm lĩnh vực công tác xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đồng thời, đổi mới cơ chế, đa dạng hóa các nguồn lực thực hiện chính sách xã hội phù hợp với nhu cầu, lợi ích của các tầng lớp dân cư, nhóm xã hội, bảo đảm bình đẳng về cơ hội phát triển, nhất là với lao động khu vực phi chính thức.
Thứ ba, hoàn thiện và thực hiện tốt pháp luật, chính sách đối với người có công trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước và xã hội, bảo đảm người có công và gia đình có mức sống từ trung bình khá trở lên so với bình quân cả nước. Cân đối ngân sách để tiếp tục thực hiện việc nâng mức trợ cấp xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công, giải quyết căn bản chính sách đối với người có công; nâng cấp các công trình “đền ơn đáp nghĩa”, các di tích văn hóa - lịch sử.
Thứ tư, cải cách chính sách tiền lương theo hướng gắn với sự thay đổi của giá cả sức lao động trên thị trường, tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng năng suất lao động, bảo đảm nguyên tắc phân phối theo lao động, tạo động lực nâng cao năng suất và hiệu quả. Chú trọng nâng cao phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, cố gắng bảo đảm những nhu cầu cơ bản, thiết yếu của nhân dân về nhà ở, đi lại, giáo dục, y tế, việc làm...
Thứ năm, phát triển thị trường lao động, hướng đến việc làm bền vững. Xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, ưu tiên đưa lao động kỹ thuật có tay nghề đi làm việc ở những thị trường có thu nhập cao, an toàn và tiếp tục phát huy nguồn lực này sau khi về nước trên cơ sở bảo đảm cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực trong nước. Mặt khác, cần đổi mới chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo hướng tăng cường đào tạo và đào tạo lại cho người lao động để tham gia hiệu quả vào thị trường lao động. Chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế, nâng cao tỷ trọng lao động trong khu vực chính thức, tập trung giải quyết việc làm cho lao động khu vực phi chính thức, đặc biệt là lao động nông nghiệp chuyển đổi ngành nghề.
Thứ sáu, phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân, bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế. Cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ - bền vững. Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bền vững, bảo đảm mức sống tối thiểu và các dịch vụ cơ bản. Nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới, triển khai có hiệu quả chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc.
Thứ bảy, xây dựng và thực thi có hiệu quả chính sách dân số và phát triển, tận dụng và phát huy lợi thế thời kỳ dân số vàng, đồng thời chuẩn bị điều kiện thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số, gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm mức tăng dân số hợp lý và cân bằng giới tính khi sinh. Nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện hiệu quả các chính sách về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm, bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe và tầm vóc người Việt Nam. Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện, phát triển hình thức khám, chữa bệnh trực tuyến. Nâng cao năng lực, chủ động phòng, chống dịch bệnh gắn với đổi mới toàn diện hệ thống y tế, nhất là y tế dự phòng. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn giao thông, an toàn thực phẩm và thuốc chữa bệnh cho toàn dân.
1. Doãn Hùng: Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội vùng Tây Nam Bộ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 48.
2. PGS, TS. Đoàn Minh Huấn: Quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội theo tinh thần Đại hội XII của Đảng, Tạp chí Cộng sản, ngày 27/10/2016, https://tapchicongsan.org.vn/quan-triet-va-thuc-hien-nghi-quyet-ai-hoi-xii-cua-ang/-/2018/41687/quan-ly-phat-trien-xa-hoi%2C-thuc-hien-tien-bo-va-cong-bang-xa-hoi-theo-tinh-than-dai-hoi-xii-cua-dang.aspx.
3. Phùng Hữu Phú, Nguyễn Văn Đặng, Nguyễn Viết Thông: Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 260-261.
4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 330, tr. 43-44.
6, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 85-86, tr. 47-48.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 134-135.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.
4. Phùng Hữu Phú, Nguyễn Văn Đặng, Nguyễn Viết Thông: Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016.
5. Doãn Hùng: Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội vùng Tây Nam Bộ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.
6. PGS, TS. Đoàn Minh Huấn: Quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội theo tinh thần Đại hội XII của Đảng, Tạp chí Cộng sản, ngày 27/10/2016, https://tapchicongsan.org.vn/quan-triet-va-thuc-hien-nghi-quyet-ai-hoi-xii-cua-ang/-/2018/41687/quan-ly-phat-trien-xa-hoi%2C-thuc-hien-tien-bo-va-cong-bang-xa-hoi-theo-tinh-than-dai-hoi-xii-cua-dang.aspx.
PHẠM NGỌC HÒA
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đồng Tháp