Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về đường lối đổi mới của Việt Nam

CT&PT - Trên hành trình đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ đại hội VI năm 1986, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực. Đổi mới đã trở thành sự nghiệp lớ lớn của toàn đảng, toàn dân, toàn quân, mở ra thời đại phát triển mới cho đất nước. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng điểm yếu, khuyết điểm trong quá trình đổi mới để tung ra nhiều luận điểu sai trái, ác ý, nhằm bóp méo bản chất cách mạng, khoa học, nhân văn và hiệu quả của đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng.

1. Bản chất, nội dung và những đóng góp lịch sử của đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng

Đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn cách mạng, tiếp thu tinh hoa nhân loại và phát huy trí tuệ tập thể của toàn Đảng, toàn dân. Về bản chất, đổi mới không phải là sự thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của đất nước, nhằm vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Trên cơ sở nhận thức lại đầy đủ, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI (1986) của Đảng đã xác định: đổi mới là một yêu cầu khách quan, là quá trình cải biến toàn diện, đồng bộ từ tư duy đến thực tiễn, từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đổi mới bắt đầu từ đổi mới tư duy kinh tế, nhưng nhanh chóng mở rộng sang các lĩnh vực khác, tạo thành một chỉnh thể đổi mới toàn diện và đồng bộ, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn.

Về nội dung, đường lối đổi mới bao trùm nhiều phương diện, trong đó trọng tâm là phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một mô hình phát triển vừa kế thừa các thành tựu của kinh tế thị trường hiện đại, vừa bảo đảm vai trò điều tiết của Nhà nước, mục tiêu công bằng, tiến bộ xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới trong lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội đi đôi với tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy dân chủ XHCN và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đối ngoại đổi mới từ chỗ khép kín sang chủ động hội nhập quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam.

Thực tiễn gần 40 năm qua đã chứng minh tính đúng đắn, sáng tạo, khoa học và hiệu quả của đường lối đổi mới. Về kinh tế, từ một nước nghèo, lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên nhóm nước có thu nhập trung bình, trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương. GDP bình quân đầu người tăng gần 30 lần so với năm 1986, quy mô nền kinh tế năm 2023 đạt khoảng 430 tỷ USD, đứng thứ 5 trong ASEAN1.

Về xã hội, công cuộc xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả vượt bậc; hệ thống an sinh xã hội ngày càng mở rộng và bền vững. Chỉ số phát triển con người (HDI) không ngừng cải thiện, năm 2022 đạt 0,703 - xếp vào nhóm nước có chỉ số phát triển con người ở mức cao. Cùng với đó, giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học - công nghệ có nhiều tiến bộ quan trọng; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao.

Về chính trị, hệ thống chính trị ngày càng được củng cố và hoàn thiện; khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được tăng cường. Vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân được thể chế hóa và thực thi hiệu quả. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản được giữ vững.

Về đối ngoại, Việt Nam từ chỗ bị bao vây, cấm vận, đã trở thành bạn, đối tác tin cậy và thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế. Quan hệ đối ngoại được mở rộng và đi vào chiều sâu với gần 200 quốc gia và tổ chức quốc tế, trong đó có nhiều đối tác chiến lược và toàn diện. Việt Nam đã ký kết và tham gia hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP, tạo nền tảng quan trọng cho hội nhập và phát triển.

Tổng kết 35 năm đổi mới tại Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: "Những thành tựu đạt được là to lớn, có ý nghĩa lịch sử, là kết quả của quá trình kiên trì đổi mới, phát triển, nâng cao tầm vóc tư duy lý luận và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; là minh chứng hùng hồn cho tính đúng đắn của đường lối đổi mới, con đường đi lên CNXH ở nước ta"2.

Như vậy, đường lối đổi mới là sự lựa chọn đúng đắn, sáng tạo và mang tính lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, phù hợp với yêu cầu phát triển của dân tộc và xu thế thời đại. Đó không chỉ là quá trình cải cách kỹ thuật đơn thuần, mà là một cuộc cách mạng toàn diện, có chiều sâu về tư duy, phương pháp và hành động; là minh chứng sinh động cho năng lực tư duy chiến lược, sự kiên định lý tưởng và khả năng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

2. Những luận điểu sai trái, thù địch về đường lối đổi mới và sự nguy hiểm trong nhận thức

Bên cạnh những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã được khẳng định, đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn là đối tượng công kích của các thế lực thù địch, phản động và một bộ phận phần tử cơ hội chính trị. Với dụng ý chính trị rõ ràng, các thế lực này đã cố tình xuyên tạc, bóp méo bản chất và mục tiêu đổi mới nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gieo rắc hoài nghi trong quần chúng nhân dân và thúc đẩy các khuynh hướng lệch lạc về nhận thức chính trị - tư tưởng.

Một trong những luận điệu thường được các thế lực thù địch sử dụng là cho rằng đường lối đổi mới là sự từ bỏ chủ nghĩa xã hội, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Họ viện dẫn việc Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng để quy kết rằng Đảng đã xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, thay đổi bản chất giai cấp. Luận điệu này hoàn toàn sai trái, bởi như đã khẳng định trong các văn kiện Đảng: “Đổi mới là vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa”3. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là sự sao chép mô hình phương Tây, mà là sáng tạo lý luận của Đảng, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam.

Một hướng công kích khác tập trung vào những khó khăn, tồn tại, bất cập trong quá trình thực hiện đổi mới để quy kết rằng đổi mới là nguyên nhân của bất bình đẳng, chênh lệch giàu nghèo, tha hoá đạo đức và sự “thoái hóa” thể chế. Họ lợi dụng những vấn đề như tiêu cực, tham nhũng, ô nhiễm môi trường, bất cập trong chính sách để phủ nhận toàn bộ nỗ lực đổi mới và vai trò lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, đây là cách tiếp cận phiến diện và thiếu thiện chí. Bản thân Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực, kiên trì chỉnh đốn Đảng và không ngừng hoàn thiện thể chế vì sự phát triển bền vững. Những khuyết điểm, yếu kém là nhất thời, trong khi đổi mới là xu thế tất yếu và mang tính chiến lược lâu dài.

Các thế lực thù địch cũng cố tình gieo rắc tâm lý hoài nghi, bi quan về tính khả thi và hiệu quả của mô hình phát triển hiện tại. Chúng tuyên truyền rằng Việt Nam không thể thoát bẫy thu nhập trung bình, không có sức cạnh tranh quốc tế, phụ thuộc vào nước ngoài và đang đánh mất bản sắc văn hóa - chính trị truyền thống. Đây là những nhận định mang tính ác ý, không dựa trên bằng chứng khách quan. Trên thực tế, nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện sức chống chịu và phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch COVID-19; các chỉ số phát triển con người, mức độ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo… đều ghi nhận tiến bộ rõ rệt. Văn hóa dân tộc được giữ gìn, phát huy và lan tỏa mạnh mẽ trong thời đại số.

Nguy hiểm hơn, những luận điệu sai trái này không chỉ xuất hiện trên các kênh truyền thông thù địch mà còn len lỏi vào đời sống thông qua mạng xã hội, các nền tảng truyền thông mới, thậm chí qua một số trí thức bất mãn, người có ảnh hưởng xã hội. Chúng tạo ra các diễn đàn, blog, kênh bình luận chính trị với vỏ bọc “phản biện khoa học” nhưng thực chất là kích động nghi ngờ, chia rẽ và gây nhiễu loạn thông tin. Trong bối cảnh toàn cầu hóa thông tin và truyền thông số phát triển mạnh, tính lan truyền của những thông tin sai lệch, xuyên tạc càng lớn, gây tác động tiêu cực đến nhận thức xã hội, đặc biệt là bộ phận thanh niên, sinh viên - những người chưa có nền tảng vững chắc về chính trị tư tưởng.

Tính chất nguy hiểm của các luận điệu sai trái, thù địch không chỉ nằm ở nội dung xuyên tạc mà còn ở chỗ chúng đánh vào những vấn đề “nhạy cảm”, khai thác tâm lý bất ổn, cảm xúc tiêu cực, qua đó dần dần làm xói mòn niềm tin vào Đảng, vào con đường xã hội chủ nghĩa. Nếu không có sự cảnh tỉnh, đấu tranh và phản bác kịp thời, các luận điệu này có thể gây ra những hệ lụy lâu dài đối với sự ổn định chính trị, an ninh tư tưởng và đoàn kết dân tộc.

Do đó, việc nhận diện, phê phán và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về đường lối đổi mới cần được xem là nhiệm vụ thường xuyên, cấp thiết của toàn hệ thống chính trị, các nhà khoa học, cán bộ đảng viên và nhất là đội ngũ làm công tác lý luận, tư tưởng trong giai đoạn hiện nay. Đó không chỉ là quá trình cải cách kỹ thuật đơn thuần, mà là một cuộc cách mạng toàn diện, có chiều sâu về tư duy, phương pháp và hành động; là minh chứng sinh động cho năng lực tư duy chiến lược, sự kiên định lý tưởng và khả năng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

3. Căn cứ phản bác các luận điểu sai trái, thù địch về đường lối đổi mới

Việc phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về đường lối đổi mới không chỉ là yêu cầu cấp thiết về chính trị - tư tưởng, mà còn là một tất yếu lý luận và thực tiễn trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cơ sở cho nhiệm vụ này xuất phát từ cả nền tảng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ các luận điểm được xác lập trong văn kiện Đảng qua các kỳ đại hội, cũng như từ thực tiễn sinh động, thuyết phục trong gần bốn thập kỷ đổi mới.

Trước hết, về cơ sở lý luận, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn được khẳng định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta. Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ cung cấp thế giới quan và phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới, mà còn là nền tảng lý luận để xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh với quan điểm lấy dân làm gốc, phát huy nội lực dân tộc, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội… là nguồn tài nguyên tinh thần quý báu để Đảng vận dụng linh hoạt trong từng giai đoạn phát triển. Đổi mới không tách rời khỏi hệ giá trị này, mà ngược lại, thể hiện sự trung thành và phát triển sáng tạo các nguyên lý đó trong điều kiện mới của thời đại toàn cầu hóa và cách mạng khoa học công nghệ.

Bên cạnh đó, các văn kiện của Đảng, đặc biệt từ Đại hội VI đến Đại hội XIII đều nhấn mạnh rằng đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu mà là phương thức để hiện thực hóa mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Cơ sở lý luận của đổi mới là quá trình nhận thức sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, là sự tổng kết kinh nghiệm phát triển trong nước, kết hợp với tham khảo tinh hoa nhân loại, để xác lập một mô hình phát triển phù hợp thực tiễn Việt Nam. Cần nhấn mạnh rằng, tính khoa học và nhất quán của đường lối đổi mới đã được kiểm nghiệm và củng cố qua thực tiễn lịch sử, chứ không phải là sản phẩm của lý luận phiến diện hay sự lựa chọn duy ý chí.

Thứ hai, cơ sở thực tiễn để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chính là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước trong gần 40 năm qua. Đây là bằng chứng hùng hồn, không thể phủ nhận về tính đúng đắn, hợp lý và hiệu quả của đường lối đổi mới. Nếu không có đổi mới, Việt Nam không thể thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối thập niên 1980, không thể vươn lên thành một nền kinh tế năng động như hiện nay, không thể bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa, và càng không thể giữ vững được độc lập, chủ quyền, vị thế quốc tế trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị khốc liệt.

Thực tiễn cũng cho thấy, chính đổi mới đã tạo điều kiện để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thúc đẩy dân chủ xã hội chủ nghĩa, mở rộng không gian phát triển cho các lực lượng xã hội, trong đó có kinh tế tư nhân, khoa học - công nghệ, giáo dục và truyền thông. Những tiến bộ trong đời sống nhân dân, trong cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa… là bằng chứng sinh động cho hiệu quả và tính tiến bộ của đổi mới. Trong khi đó, các luận điệu thù địch thường phớt lờ hoặc cố tình bóp méo những thành tựu này, phản ánh sự thiếu trung thực về mặt học thuật và dụng ý chính trị xấu.

Ngoài ra, phản bác các luận điệu sai trái, thù địch còn dựa trên cơ sở thực tiễn toàn cầu. Những nước đi sau như Việt Nam buộc phải lựa chọn mô hình phát triển vừa hiện đại, vừa phù hợp với điều kiện trong nước. Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy không có mô hình phát triển nào là đồng nhất, càng không thể sao chép rập khuôn. Việc Đảng ta xác lập mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự kết tinh giữa lý luận và thực tiễn Việt Nam, đồng thời có khả năng tiếp biến sáng tạo các giá trị phổ quát về dân chủ, công bằng, phát triển bền vững mà nhân loại đang hướng tới.

Thứ ba, một cơ sở quan trọng khác không thể không nhắc đến chính là sự ủng hộ, tin tưởng và đồng thuận ngày càng cao của nhân dân đối với Đảng và con đường đổi mới. Sự đồng thuận xã hội, niềm tin chính trị của người dân chính là “thước đo chân thực” phản ánh hiệu quả và tính đúng đắn của đường lối đổi mới. Trong các cuộc khảo sát quốc tế và quốc nội, Việt Nam luôn nằm trong nhóm quốc gia có tỷ lệ người dân tin tưởng vào chính phủ và định hướng phát triển của đất nước cao nhất. Theo kết quả khảo sát Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2023, đa số người dân cho rằng Nhà nước đang đi đúng hướng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Đây là minh chứng sinh động bác bỏ các luận điệu sai trái cho rằng đổi mới đã làm mất đi vai trò “người cầm lái” của Đảng hay gây rạn nứt mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Trên thực tế, chính “thế trận lòng dân” là nhân tố then chốt góp phần củng cố sức mạnh và tạo tính chính danh cho đường lối đổi mới.

Từ các cơ sở trên, có thể khẳng định: mọi sự xuyên tạc, phủ nhận đường lối đổi mới đều là hành vi đi ngược lại lợi ích dân tộc, đi ngược lại xu thế phát triển tiến bộ của thời đại. Việc đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch phải được tiến hành một cách chủ động, có hệ thống, dựa trên luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc. Đồng thời, cần kết hợp giữa đấu tranh tư tưởng - lý luận với xây dựng, củng cố niềm tin xã hội thông qua kết quả phát triển cụ thể và sự nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.


1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2023.

2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 23, 27.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin