1. Nhận diện luận điệu quy chụp Đảng Cộng sản Việt Nam với hiện tượng “sùng bái cá nhân”
Xuất phát từ mưu đồ lâu dài nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị không ngừng tung ra những luận điệu xuyên tạc, quy chụp bản chất của Đảng. Dựa vào "kinh nghiệm" kích động bất ổn chính trị từ các cuộc “cách mạng màu” ở một số quốc gia và sự hậu thuẫn của các trung tâm chống cộng quốc tế, chúng nuôi dưỡng ảo tưởng rằng: nếu làm suy giảm uy tín chính trị và niềm tin của nhân dân đối với Đảng thì có thể từng bước gây rối loạn nội bộ, làm “đổi màu” chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (?!).
Một trong những luận điệu chúng thường sử dụng là quy chụp rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang mắc “căn bệnh sùng bái cá nhân” (?!), coi đây là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến “tha hóa quyền lực” và “khủng hoảng lãnh đạo” (?!). Dưới chiêu bài “phản biện”, “góp ý xây dựng” , chúng xuyên tạc rằng: việc Đảng kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; việc đề cao vai trò của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, nhất là người đứng đầu Đảng; việc tổ chức nghiên cứu, quán triệt các chủ trương, quan điểm lớn của lãnh đạo Đảng thực chất là hành vi “thần thánh hóa”, “huyền thoại hóa” cá nhân nhằm duy trì chế độ “độc tài, toàn trị” (?!).
Lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ của internet và mạng xã hội, các luận điệu này được phát tán với mật độ dày đặc, thủ đoạn tinh vi, hình thức đa dạng, khi thì “ngấm ngầm”, khi thì “công khai”, tập trung cao độ vào thời điểm đất nước diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng nhằm dẫn dắt dư luận, gieo rắc hoài nghi, gây nhiễu loạn nhận thức xã hội. Đáng chú ý, cùng với việc xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch xác định việc bôi nhọ, công kích người đứng đầu Đảng hiện nay là mũi tấn công chủ yếu. Chúng lợi dụng những giá trị truyền thống tích cực của dân tộc như “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, “trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu” để suy diễn, áp đặt rằng nếu uy tín của người đứng đầu của Đảng bị hạ thấp thì tất yếu sẽ dẫn tới rạn nứt nội bộ và khủng hoảng chính trị (?!). Từ đó, chúng cố tình dựng lên các “chứng cứ” ngụy tạo, vu cáo người đứng đầu của Đảng đang là đối tượng của sự “sùng bái cá nhân” trong đời sống chính trị - xã hội Việt Nam (?!).
Đặc biệt, lợi dụng việc toàn Đảng đang đẩy mạnh quán triệt, triển khai các chủ trương, định hướng lớn do Tổng Bí thư đề xuất và chỉ đạo, coi đây là yêu cầu khách quan nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng trong kỷ nguyên mới, các thế lực thù địch, phản động đã trắng trợn xuyên tạc, quy kết đó là “biểu hiện mới”, là “triệu chứng trầm trọng” của cái gọi là “căn bệnh sùng bái cá nhân” của Đảng Cộng sản Việt Nam (?!). Không dừng lại ở đó, các thế lực thù địch còn lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; việc xử lý nghiêm minh một số cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước theo tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; cùng với những khó khăn của đời sống kinh tế - xã hội trong bối cảnh nhiều thách thức đan xen để kích động tâm lý bất mãn, hoài nghi trong xã hội. Trên cơ sở đó, chúng tìm cách móc nối, tập hợp lực lượng chống phá, hình thành cái gọi là “liên minh” gồm các phần tử chống cộng lưu vong ở nước ngoài, một số kẻ cơ hội chính trị trong nước và một bộ phận trí thức “trở cờ”, nhằm tạo ra các “làn sóng dư luận giả”, thúc đẩy “sóng ngầm xã hội”, từ bên ngoài gây sức ép, từ bên trong kích hoạt quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.
Thực chất, những lập luận trên đây là thủ đoạn đánh tráo khái niệm, cố tình phủ nhận sự khác biệt căn bản giữa việc đề cao vai trò, trách nhiệm, trí tuệ và uy tín chính trị của người đứng đầu với hiện tượng “sùng bái cá nhân” vốn luôn bị Đảng ta kiên quyết phê phán và đấu tranh loại bỏ. Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đã và đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nhận diện đúng bản chất sai trái, phản động của luận điệu quy chụp Đảng với hiện tượng “sùng bái cá nhân”, qua đó chủ động đấu tranh phản bác, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình mới.
2. Luận cứ phản bác luận điệu quy chụp Đảng Cộng sản Việt Nam với hiện tượng “sùng bái cá nhân”
Một là, “sùng bái cá nhân” là hiện tượng hoàn toàn đối lập với bản chất, mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhìn lại toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại, kể từ khi xuất hiện giai cấp và nhà nước, có thể thấy rằng trong mọi thể chế chính trị, mọi đảng phái cầm quyền hay tham gia cầm quyền đều tiềm ẩn nguy cơ mắc phải “sai lầm về đường lối lãnh đạo”. Một trong những căn nguyên sâu xa của những sai lầm đó chính là tệ “sùng bái cá nhân”. “Sùng bái cá nhân” thực chất là hiện tượng đề cao vai trò của một cá nhân đến mức cực đoan, thần thánh hóa và tuyệt đối hóa quan điểm, ý chí cá nhân, coi cá nhân đó là không thể thay thế, thậm chí nâng ý chí chủ quan của cá nhân lên thành đường lối, chính sách hoặc chuẩn mực pháp lý.
Đứng trên lập trường duy vật lịch sử và quan điểm khoa học về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn coi “sùng bái cá nhân” là hiện tượng hoàn toàn đối lập với bản chất, mục tiêu và lý tưởng của giai cấp vô sản. C.Mác từng nhấn mạnh: “Lần gia nhập đầu tiên của Ăng-ghen và của tôi vào hội bí mật của những người cộng sản đã được tiến hành với một điều kiện không thể thiếu là phải loại bỏ ra khỏi Điều lệ tất cả những gì thúc đẩy sự sùng bái theo kiểu mê tín đối với các nhân vật có uy tín”1. Về bản chất, “sùng bái cá nhân” tất yếu dẫn đến thái độ phục tùng mù quáng, làm triệt tiêu tinh thần phản biện, thủ tiêu dân chủ, nuôi dưỡng tư tưởng cuồng tín, đồng thời tạo môi trường cho bệnh quan liêu và giáo điều nảy sinh, phát triển. Nguy cơ này đã được V.I. Lênin sớm chỉ ra với sự cảnh báo nghiêm khắc: “Toàn bộ công việc của tất cả các cơ quan kinh tế của chúng ta bị khốn khổ trước hết về quan liêu... Nếu cái gì sẽ làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó”2.
Thấm nhuần sâu sắc những chỉ dẫn khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện lập trường kiên quyết, nhất quán trong việc ngăn chặn và đẩy lùi tệ “sùng bái cá nhân”. Trên cương vị là người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phê phán căn bệnh này về mặt lý luận, mà còn trực tiếp chỉ ra “đơn thuốc” và “phác đồ điều trị” một cách toàn diện, khoa học. Người nhấn mạnh yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải “làm đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách; đều phải chống cái tệ sùng bái cá nhân và quan liêu mệnh lệnh”3. Đây được coi là điều kiện có ý nghĩa nền tảng nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tệ “sùng bái cá nhân” ra khỏi đời sống chính trị của Đảng và xã hội.
Như vậy, về bản chất, chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn đối lập với tệ “sùng bái cá nhân” và việc ngăn chặn, đẩy lùi căn bệnh này ra khỏi đời sống chính trị không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là nhiệm vụ hệ trọng hàng đầu, là cuộc “đấu tranh với chính mình” của các đảng cộng sản chân chính. Mọi luận điệu, âm mưu xảo quyệt hòng quy chụp rằng “chủ nghĩa cộng sản đồng nghĩa với sùng bái cá nhân” (?!), “Đảng Cộng sản Việt Nam sùng bái chủ nghĩa cá nhân” (?!) thực chất chỉ là sự xuyên tạc thô thiển, vu cáo bỉ ổi, vô căn cứ, theo kiểu “gắp lửa bỏ tay người”, “đánh bùn sang ao” của các thế lực thù địch, phản động, cần được nhận diện rõ và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.
Hai là, “sùng bái cá nhân” hoàn toàn đối lập với bản chất cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong quá trình vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi trọng vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, xem việc học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện đúng đắn các quyết sách lãnh đạo là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của cách mạng. Tuy nhiên, sự đề cao vai trò người đứng đầu không bao giờ đồng nghĩa với việc dung túng hay thỏa hiệp với tệ “sùng bái cá nhân”. Ngay trong “Cương lĩnh chính trị đầu tiên”, Đảng ta công khai tuyên bố sứ mệnh thiêng liêng của Đảng và dân tộc đó là: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”4. Mọi chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, mọi hy sinh, cống hiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân đều nhằm tập trung hiện thực hóa sứ mệnh cao cả trên. Bởi vì, đó là sự lựa chọn thể hiện mong ước cháy bỏng của Đảng và nhân dân ta, là con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam. Nhân dân ta một lòng, một dạ tin theo Đảng, hy sinh chiến đấu bảo vệ Đảng, đó là sự trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu mà Đảng chỉ ra, tuyệt nhiên không phải là sự sùng bái, phục tùng vào một chính đảng hoặc cá nhân lãnh tụ đảng, nhất là nếu đảng đó, lãnh tụ đó “lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”5. Tư cách lãnh đạo, cầm quyền của một chính đảng không phải ở chỗ đảng đó mang tên gì, theo chủ thuyết nào mà vấn đề mấu chốt nhất là khả năng hiện thực hóa lợi ích chân chính của quần chúng nhân dân bằng những quyết sách đúng đắn của mình nhằm mưu cầu ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Bởi vì, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”6.
Tuy nhiên, sự nghiệp đấu tranh cách mạng là quá trình lâu dài, khó khăn, gian khổ, tổn thất và hy sinh, là “cuộc chiến đấu khổng lồ” chống lại “những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”7… nên Đảng khó tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng là người, Đảng là cán bộ, là đảng viên, tất nhiên có sai lầm”8. Tuy nhiên, sai lầm, khuyết điểm của Đảng hoàn toàn có thể khắc phục, sửa chữa được vì Đảng “có chủ nghĩa Mác - Lênin, có mục đích phục vụ nhân dân, có phê bình và tự phê bình, cho nên kiên quyết sửa chữa”9.
Đối với những cán bộ, đảng viên có biểu hiện tha hóa, biến chất, Đảng kiên quyết chỉ đạo xem xét, đánh giá công minh, phân định rõ công - tội, xử lý nghiêm minh, không để xảy ra tình trạng thiên tư, thiên vị. Thái độ nhất quán không che giấu khuyết điểm, không dung túng sai phạm, trái lại luôn dũng cảm thừa nhận thiếu sót, sai lầm và chủ động, kiên trì khắc phục chính là biểu hiện tập trung của bản lĩnh và trách nhiệm của một chính đảng cầm quyền chân chính, luôn “hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Chính từ thực tiễn đó, nhân dân Việt Nam dành cho Đảng niềm tin, sự yêu kính và sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Đảng, coi Đảng như một phần máu thịt không thể tách rời của mình. Đây là sự lựa chọn phù hợp với đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, đồng thời phản ánh sự đồng thuận sâu sắc của “lòng dân”, hoàn toàn không phải là sự phục tùng mù quáng hay biểu hiện của “sùng bái cá nhân” như những luận điệu xuyên tạc, thêu dệt của các thế lực thù địch.
Ba là, “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta chưa bao giờ có được như ngày nay”10 là chuẩn mực khẳng định tư cách cầm quyền của Đảng và uy tín của người đứng đầu Đảng.
Đối với mỗi quốc gia, các tiêu chí về cơ đồ phát triển, tiềm lực tổng hợp, vị thế và uy tín trên trường quốc tế không chỉ phản ánh mức độ phát triển, mà còn là chuẩn mực quan trọng để kiểm chứng tính ưu việt của thể chế chính trị, năng lực lãnh đạo của chính đảng cầm quyền và hiệu quả quản trị quốc gia. Những thành tựu đó không phải là kết quả ngẫu nhiên hay nhất thời, mà được tạo dựng, bồi đắp và phát triển qua cả một tiến trình lịch sử lâu dài, gian khổ của sự nghiệp đấu tranh cách mạng, bằng trí tuệ, công sức, bản lĩnh và ý chí kiên cường của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Lịch sử cách mạng Việt Nam là lịch sử gắn liền với những cống hiến to lớn, mang tính quyết định của Đảng Cộng sản Việt Nam; mỗi bước tiến của cách mạng đều in đậm dấu ấn của đường lối lãnh đạo đúng đắn, phù hợp quy luật và thực tiễn đất nước. Từ thân phận một quốc gia thuộc địa, nửa phong kiến, bị áp bức, bóc lột nặng nề, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã vùng lên giành thắng lợi trọn vẹn trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945; tiếp đó là những chiến thắng vĩ đại trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và đặc biệt là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước sau 40 năm kiên trì thực hiện.
Theo số liệu thống kê: “Kết quả phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam năm 2025 đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu chủ yếu. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát tốt, tăng trưởng cao, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tốc độ tăng GDP quý IV/2025 ước đạt 8,46%, cả năm ước đạt 8,02%; quy mô nền kinh tế đạt khoảng 514 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới; thu nhập bình quân đầu người tương đương 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 và thuộc nhóm nước thu nhập trung bình cao. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt trên 930 tỷ USD, tăng 18,2% so với cùng kỳ, thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới. Vốn FDI thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9%, là mức thực hiện cao nhất từ năm 2021 đến nay”11. Đây là những con số biết nói, đã được thực chứng, không chỉ khẳng định thành tựu vĩ đại, nhiệm vụ lịch sử nặng nề, sứ mệnh thiêng liêng, cao cả của Đảng và nhân dân ta trên con đường hiện thực hoá mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Tóm lại, với tất cả sự khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có thể nói rằng: “Đảng ta thật là vĩ đại! Nhân dân ta thật là anh hùng”12. Vì thế, vai trò và địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành hình mẫu về chính đảng cầm quyền có uy tín lớn không chỉ trong nước mà cả trên trường quốc tế. Vai trò và địa vị đó có được không phải là do Đảng tự phong cho mình, càng không phải là “thủ đoạn chính trị” buộc nhân dân “sùng bái, thần thánh hóa” Đảng và người đứng đầu Đảng, mà là do uy tín đặc biệt của Đảng, người đứng đầu Đảng trước quần chúng. Tất cả những mưu mô xảo quyệt, tinh vi, nham hiểm của kẻ thù hòng xuyên tạc, bôi nhọ Đảng tất yếu sẽ bị quần chúng phanh phui và lịch sử chôn vùi. Nhân dân ta tin Đảng, nguyện một lòng đi theo Đảng, hy sinh chiến đấu bảo vệ Đảng, tin tưởng, kính yêu và tôn vinh lãnh tụ tài đức, vì dân, vì nước. Đó là tình cảm dân tộc phổ biến, thiêng liêng, trong sáng và vĩnh cửu được thử thách, rèn luyện kiên trì, bền bỉ “cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”13.
1. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1998, t. 34, tr. 420-423.
2. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, t. 54, tr. 235.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 10, tr. 431.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 1.
5, 7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 672, 617.
6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 64.
8, 9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 268.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 25.
11. Họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao: Cộng đồng quốc tế ghi nhận thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân điện tử, ngày 08/01/2026, https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/hop-bao-thuong-ky-bo-ngoai-giao-cong-dong-quoc-te-ghi-nhan-thanh-tuu-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-cua-viet-nam-1020635.
12. Diễn văn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2020), Báo điện tử Chính phủ, ngày 03/02/2020, https://baochinhphu.vn/dien-van-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-tai-le-ky-niem-90-nam-ngay-thanh-lap-dang-102267765.htm.
13. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 612.