Đại đoàn kết toàn dân tộc - Cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam

CT&PT - Trong dòng chảy lịch sử dựng nước và giữ nước hơn một nghìn năm của dân tộc Việt Nam, truyền thống đoàn kết dân tộc luôn giữ vai trò quyết định. Sự hình thành và phát triển tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự vận dụng sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên một nguồn lực nội sinh to lớn, trở thành cội nguồn sức mạnh và động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam trong mọi thời kỳ. Nhận thức ngày nay về đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là giá trị truyền thống mà còn là một thành tố chiến lược, sống còn đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương của Đảng ta về đại đoàn kết dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết được hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa truyền thống yêu nước, nhân văn và khoan dung của dân tộc Việt Nam, kết hợp với thế giới quan cách mạng và chủ nghĩa nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ĐĐK là sự nghiệp của toàn dân, là sức mạnh tổng hợp từ sự liên kết, thống nhất giữa các giai tầng, các dân tộc, các tôn giáo, mọi thành phần trong xã hội trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng hướng tới mục tiêu chung là độc lập dân tộc, hạnh phúc của nhân dân.

Lịch sử Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã minh chứng sinh động quan điểm của Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là sức mạnh “giúp Cách mạng tháng Tám thành công”, “đã giúp kháng chiến thắng lợi” và “sẽ động viên nhân dân từ Bắc đến Nam đấu tranh để thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước”1.

Những biến cố lịch sử thế giới cuối thế kỷ XX, với sự tan rã của nhiều quốc gia, sự gia tăng các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo đã cho thấy nguy cơ phân ly và sự suy giảm sức mạnh quốc gia dân tộc do sự đoàn kết sắc tộc, tôn giáo rạn nứt, suy yếu. Thực tiễn càng minh chứng quan điểm của Hồ Chí Minh về “động lực lớn”, “động lực vĩ đại” và tại những thời điểm “tình thế” cách mạng” khó khăn, thách thức, đoàn kết là động lực “duy nhất”của dân tộc.

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chỉnh thể gồm chủ thể lãnh đạo, lực lượng, đồng minh, nguyên tắc, phương pháp đoàn kết, tập hợp. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng muốn thành công trước hết phải xác định rõ lực lượng liên minh nòng cốt để hợp lực của các giai cấp, tầng lớp trong mặt trận dân tộc thống nhất, tạo thành sức mạnh nội sinh của cách mạng. Sức mạnh nội sinh đó là trụ cột để mở rộng đoàn kết quốc tế.

Phải đoàn kết đại đa số nhân dân, trong đó “Lực lượng chủ yếu trong khối đoàn kết dân tộc là công nông, cho nên liên minh công nông là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất” và để đoàn kết rộng rãi thì nền tảng phải vững.

Về cách thức tập hợp, đoàn kết, cần tổ chức mặt trận dân tộc thống nhất để gắn kết quần chúng vào các tổ chức, để hướng lực lượng quần chúng vào thực hiện mục tiêu cách mạng.

Để tập hợp các tầng lớp nhân dân, xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất Đảng phải giữ vững vai trò lãnh đạo và thực hiện các phương thức lãnh đạo hiệu quả. Trước hết, đường lối, chủ trương của Đảng phải phù hợp với nguyện vọng của đại đa số nhân dân, là hiện thân của lợi ích quốc gia dân tộc; giữ mối liên hệ máu thịt với nhân dân; tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục nhân dân tin theo và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng; tổ chức mặt trận và các đoàn thể phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Cần nhận diện và phân hóa lực lượng trung gian, lực lượng phản cách mạng.

Nguyên tắc trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích của quốc gia dân tộc với lợi ích chính đáng của các giai cấp, tầng lớp. Phải luôn giữ vững quan điểm “dân là gốc”, tin vào dân, dựa vào dân, vì nhân dân. Đoàn kết tự giác, tự nguyện, thành thật, đoàn kết lâu dài.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc: “Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như­ trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam”. Trong các giai đoạn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xây dựng và phát huy mạnh mẽ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc làm nên thắng lợi.

Thấm nhuần tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, qua các kỳ Đại hội, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới đất nước hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao: Đại đoàn kết là để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng, đại đoàn kết trước hết phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, là nhiệm vụ của cả dân tộc phải thực hiện. Đại đoàn kết chính là đồng tâm hiệp lực phát huy sức mạnh toàn dân tộc và sức mạnh thời đại nhằm thực hiện mục tiêu của cách mạng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng cốt lõi của đại đoàn kết là lấy dân làm gốc và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước. Trong các văn kiện, nghị quyết, Đảng đều nhấn mạnh quan điểm chủ đạo, xuyên suốt là coi đại đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp cách mạng. Đại đoàn kết trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đoàn kết là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu có ý nghĩa quyết định và bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng. Đại đoàn kết toàn dân trong điều kiện thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa một mặt phát huy được tính năng động của mỗi người, từ những người dân bình thường trực tiếp lao động, sản xuất và học tập đến đội ngũ lãnh đạo, quản lý, đều hăng say hoạt động với năng suất, chất lượng hiệu quả ngày càng cao; mặt khác, phải khắc phục được những tiêu cực của kinh tế thị trường, đặc biệt là tâm lý chạy theo đồng tiền, cạnh tranh không lành mạnh, làm phai nhạt truyền thống đoàn kết, tình nghĩa tương thân, tương ái của dân tộc.

Trong đường lối, chiến lược, sách lược, Đảng luôn coi: Đại đoàn kết là phải đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu, lấy đó làm cơ sở xây dựng các chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội, xuất phát từ lợi ích dân tộc để mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ mọi khả năng để xây dựng, phát triển đất nước. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần đoàn kết để xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu cũng như sự tụt hậu xa hơn về kinh tế, khoa học công nghệ so với các nước trong khu vực và thế giới, để thực hiện cho được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để thực hiện được đại đoàn kết phải bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích; thực hiện dân chủ gắn liền với kỷ cương, chống quan liêu tham nhũng. Bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tinh thần tự lực tự cường xây dựng và bảo vệ đất nước. Phát triển kinh tế đồng thời giải quyết thỏa đáng các chính sách xã hội và mối quan hệ giữa ba lợi ích: xã hội, tập thể, cá nhân; bảo đảm đời sống của người lao động không ngừng được cải thiện và nâng cao.

Trải qua 13 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, bài học lớn mà chúng ta rút ra trong sự nghiệp cách mạng là dù khó khăn đến mấy, nếu biết đoàn kết đồng lòng, hiệp lực thì sẽ vượt qua. Do vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết sẽ mãi mãi là ngọn nguồn tạo nên sức mạnh vô địch đưa cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi bởi“Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”3.

Quan điểm, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết, về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong thời kỳ hội nhập quốc tế và xây dựng đất nước được tổng kết và khái quát rất rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), được thể chế hóa bằng các bản Hiến pháp (đặc biệt là Hiến pháp sửa đổi năm 2013) và nhiều văn bản pháp luật khác.

Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24/11/2023 về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, với những quan điểm, mục tiêu, giải pháp cụ thể. Trong đó, Trung ương Đảng khẳng định, đại đoàn kết dân tộc là sợi chỉ đỏ, truyền thống quý báu, chủ trương, đường lối quan trọng, xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn góp phần quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, xác định bốn quan điểm lớn: (1) Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, đường lối chiến lược quan trọng, xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; (2) Lấy mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc; trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 làm điểm tương đồng để động viên, cổ vũ nhân dân đồng lòng, chung sức thực hiện vì tương lai của dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân. (3) Đại đoàn kết toàn dân tộc phải gắn với phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của Nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. (4) Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân, là trách nhiệm của Đảng và cả hệ thống chính trị4.

Quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc, đi vào cuộc sống đã khơi dậy quyền làm chủ, sự năng động, sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân trên mọi lĩnh vực. Kết quả của các cuộc vận động “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”… đã khẳng định đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là vô cùng đúng đắn.

2. Ý nghĩa của tư tưởng đại đoàn kết đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam

Trong suốt sự nghiệp cách mạng, tư tưởng đại đoàn kết đã chứng minh là một trong những yếu tố quyết định mọi thắng lợi. Từ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đến sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đoàn kết toàn dân luôn là điều kiện tiên quyết để biến ý chí của dân tộc thành hiện thực. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Không có đoàn kết thì việc nhỏ mấy cũng không làm xong. Có đoàn kết thì việc khó khăn mấy cũng làm được”.

Tư tưởng đại đoàn kết không chỉ có ý nghĩa trong đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn giữ vai trò chiến lược trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và hội nhập quốc tế. Trong điều kiện hiện nay, khi các mâu thuẫn xã hội, sự khác biệt về lợi ích, văn hóa và tôn giáo có nguy cơ bị lợi dụng để gây chia rẽ, tư tưởng đại đoàn kết càng cần được vận dụng để định hướng dư luận, ổn định xã hội và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trước hết, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc khẳng định sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng, cách mạng không thể thành công nếu thiếu sự đồng thuận, gắn bó của mọi tầng lớp nhân dân, mọi dân tộc anh em trong một khối thống nhất. Đại đoàn kết không chỉ là sự liên kết về mặt chính trị mà còn là sự hòa hợp về văn hóa, xã hội, kinh tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam. Đây là một trong những nhân tố quan trọng nhất giúp đất nước thoát khỏi ách thống trị của thực dân, đế quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thứ hai, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc, đề cao sự tôn trọng và phát huy vai trò của mọi thành phần xã hội, dân tộc, tôn giáo, và các tầng lớp nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng đoàn kết phải dựa trên nền tảng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, đồng thời biết dung hòa các lợi ích khác biệt để hướng tới mục tiêu chung vì sự nghiệp cách mạng và hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng này đã góp phần xóa bỏ những định kiến, hận thù giai cấp và dân tộc, tạo ra môi trường xã hội hòa bình, ổn định để phát triển.

Thứ ba, ý nghĩa của tư tưởng đại đoàn kết còn nằm ở chỗ nó tạo ra nguyên tắc tổ chức và phương thức vận động quần chúng đặc thù cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đại đoàn kết được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng linh hoạt, không chỉ trong giai đoạn kháng chiến mà còn trong xây dựng chính quyền mới, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Đây là chiến lược then chốt để huy động sức mạnh toàn dân, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc xây dựng khối đại đoàn kết vững chắc.

Tư tưởng đại đoàn kết còn có ý nghĩa về mặt giáo dục và đạo đức cách mạng, góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa với tinh thần trách nhiệm, ý thức cộng đồng và lòng yêu nước sâu sắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh xem đại đoàn kết là biểu hiện cụ thể của đạo đức cách mạng và là nhân tố quyết định sự bền vững của cách mạng.

3. Giải pháp tiếp tục phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới

Bước vào thời kỳ phát triển mới - giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu đặt ra đối với việc củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bối cảnh toàn cầu hóa, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, biến đổi khí hậu, cùng với sự cạnh tranh gay gắt về kinh tế, văn hóa và tư tưởng đã và đang tác động trực tiếp đến khối thống nhất dân tộc. Vì vậy, cần có những giải pháp tổng thể, đồng bộ và sáng tạo để khơi dậy và phát huy cao nhất sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm nền tảng vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

3.1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và nhân dân về vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc

Trước hết, phải tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị - tư tưởng, giúp cán bộ, đảng viên và toàn xã hội nhận thức sâu sắc rằng đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến lược, là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đại hội XIII (2021) của Đảng khẳng định, đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một trong những cơ sở quan trọng để Đảng khẳng định chiến lược đó là việc kế thừa, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân; tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới5.

Các cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, coi việc củng cố khối đại đoàn kết là trách nhiệm chính trị hàng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về đoàn kết, dân chủ, tôn trọng nhân dân cần được lồng ghép trong mọi hoạt động của hệ thống chính trị.

Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền phải được đổi mới cả về nội dung và phương thức. Cần kết hợp giữa tuyên truyền truyền thống với ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội, truyền thông đa phương tiện để lan tỏa giá trị đoàn kết đến từng tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Những tấm gương điển hình trong phong trào đoàn kết, giúp nhau phát triển kinh tế, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ môi trường… cần được nhân rộng, tạo hiệu ứng xã hội tích cực.

3.2. Hoàn thiện thể chế, chính sách về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Một là, Nhà nước cần tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc thành chính sách cụ thể, khả thi, phù hợp với thực tiễn từng vùng, miền, dân tộc. Đặc biệt, cần chú trọng hoàn thiện chính sách dân tộc, tôn giáo, chính sách cho vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo - nơi có vị trí chiến lược trong củng cố khối đoàn kết quốc gia.

Hai là, tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, bảo đảm nguyên tắc công bằng, bình đẳng, tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc. Đoàn kết phải gắn liền với công bằng, dân chủ và tiến bộ xã hội; chỉ khi quyền và lợi ích chính đáng của mọi tầng lớp được bảo đảm thì khối đại đoàn kết mới thực sự bền chặt.

Ba là, tăng cường chính sách hỗ trợ, phát huy vai trò của đồng bào các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài. Kiều bào ta là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc, là cầu nối hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới. Do đó, cần có cơ chế thu hút trí tuệ, nguồn lực, tài chính của kiều bào đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước, đồng thời củng cố niềm tin và lòng tự hào dân tộc trong cộng đồng người Việt toàn cầu.

Bốn là, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Khi người dân được bảo đảm quyền tham gia vào quá trình hoạch định và giám sát chính sách, họ sẽ cảm thấy mình là chủ thể thực sự của đất nước, đó chính là nền tảng vững chắc của khối đại đoàn kết.

3.3. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là trung tâm tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân; là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Do đó, việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội là yêu cầu tất yếu để phát huy vai trò nòng cốt trong củng cố khối đại đoàn kết.

Thứ nhất, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cần hướng mạnh hoạt động về cơ sở, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, kịp thời phản ánh với Đảng và Nhà nước. Cần chuyển trọng tâm từ tuyên truyền một chiều sang đối thoại, lắng nghe, phản biện xã hội, để nhân dân thực sự thấy tiếng nói của mình được tôn trọng.

Thứ hai, cần phát huy vai trò giám sát của Mặt trận trong việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật - đặc biệt là các lĩnh vực nhạy cảm như đất đai, môi trường, an sinh xã hội, phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Mặt trận không chỉ vận động mà còn tham gia kiểm soát quyền lực, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Thứ ba, cần ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể, xây dựng cơ sở dữ liệu công dân, hệ thống phản hồi trực tuyến, diễn đàn nhân dân điện tử... để mở rộng kênh tương tác giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đây là xu hướng tất yếu của quản trị hiện đại, góp phần hình thành “mặt trận số” - nơi ý chí đoàn kết được lan tỏa trong không gian mạng.

Thứ tư, tăng cường công tác thi đua yêu nước, nhân rộng các mô hình “Dân vận khéo”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc”, tạo không khí gắn bó, cộng đồng, củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội.

3.4. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân

Một trong những điều kiện tiên quyết để khối đại đoàn kết bền vững là phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực chất hóa quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ phải gắn liền với công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và thượng tôn pháp luật.

Để thực hiện điều đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin, quyền phản biện xã hội của công dân. Đồng thời, xây dựng văn hóa đối thoại, tranh luận trong xã hội, đặc biệt trong các cơ quan công quyền, cơ quan báo chí, và trên các nền tảng truyền thông số. Khi người dân có thể bày tỏ ý kiến, góp ý chính sách một cách văn minh, trách nhiệm, thì khoảng cách giữa “Đảng với dân”, “Chính quyền với dân” sẽ được thu hẹp.

Phát huy dân chủ cũng đồng nghĩa với việc tăng cường công bằng xã hội, bảo đảm mọi công dân đều có cơ hội phát triển và được thụ hưởng thành quả của đổi mới. Bất công, phân hóa giàu nghèo, tiêu cực, tham nhũng… là những “tác nhân phá vỡ” đoàn kết. Do đó, phòng chống tham nhũng, xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, gần dân, trọng dân là giải pháp cốt lõi để củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước.

Bên cạnh đó, việc triển khai hiệu quả Chiến lược phát triển con người Việt Nam cũng là một hướng quan trọng để phát huy vai trò chủ thể của nhân dân. Khi mỗi người dân được phát triển toàn diện về tri thức, sức khỏe, kỹ năng và đạo đức, họ sẽ trở thành hạt nhân tích cực của khối đại đoàn kết.

3.5. Khơi dậy khát vọng phát triển, tinh thần sáng tạo và sức mạnh thời đại của nhân dân

Đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là truyền thống, mà phải được “hiện đại hóa” trong thời kỳ mới.  Đây là định hướng có ý nghĩa chiến lược, mang tầm tư tưởng và hành động.

Một là, cần xây dựng và lan tỏa khát vọng quốc gia - khát vọng vươn lên của mỗi con người Việt Nam trong công cuộc hiện đại hóa, hội nhập. Khát vọng ấy phải gắn với tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa. Khi khát vọng phát triển trở thành động lực chung của toàn dân, nó sẽ quy tụ mọi nguồn lực, biến ý chí thành hành động cụ thể.

Hai là, phải phát huy tinh thần sáng tạo của nhân dân - coi đây là nguồn lực quan trọng nhất. Trong thời đại kinh tế tri thức, người dân không chỉ là lực lượng sản xuất mà còn là trung tâm sáng tạo, đổi mới, khởi nghiệp. Nhà nước cần tạo điều kiện để mọi cá nhân, tổ chức được tự do sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật, khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số.

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Việt Nam cần tận dụng các cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, xu thế xanh hóa, chuyển đổi năng lượng, toàn cầu hóa chuỗi giá trị… để phát huy trí tuệ và bản lĩnh của người Việt. Khi sức mạnh truyền thống được cộng hưởng với tri thức và công nghệ hiện đại, đại đoàn kết sẽ không chỉ là giá trị tinh thần, mà còn là nguồn lực vật chất, kinh tế và tri thức to lớn.

Bốn là, chú trọng vai trò của thế hệ trẻ - lực lượng xung kích trong thời đại mới. Cần bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, giáo dục đạo đức, lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cho thanh niên; phát huy phong trào “Thanh niên khởi nghiệp sáng tạo”, “Tuổi trẻ vì cộng đồng”, để họ trở thành “hạt nhân mới” của khối đại đoàn kết dân tộc trong kỷ nguyên số.

Năm là, tăng cường công tác đối ngoại nhân dân, mở rộng giao lưu quốc tế, kết nối cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, phát huy ngoại giao văn hóa để hình ảnh đất nước Việt Nam đoàn kết, nhân ái, sáng tạo được lan tỏa rộng rãi trên trường quốc tế.

3.6. Tăng cường vai trò nêu gương và trách nhiệm của người đứng đầu

Trong mọi thời kỳ, đoàn kết chỉ bền chặt khi người đứng đầu các cấp, các ngành thực sự gương mẫu, công tâm, khách quan. Do đó, việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu có ý nghĩa quyết định. 

Người đứng đầu cần phát huy vai trò trung tâm đoàn kết, biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến tập thể, không cục bộ, bè phái; đồng thời kiên quyết đấu tranh chống biểu hiện chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ. Một tập thể đoàn kết từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Có thể khẳng định, đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh và động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam. Trong giai đoạn mới, việc phát huy sức mạnh đó đòi hỏi phải đồng bộ về nhận thức, thể chế và hành động; phải biến tinh thần đoàn kết thành sức mạnh cụ thể trong từng lĩnh vực phát triển đất nước. Nâng cao nhận thức, hoàn thiện chính sách, phát huy dân chủ, đổi mới hoạt động của Mặt trận, khơi dậy khát vọng và tinh thần sáng tạo của nhân dân chính là những trụ cột bảo đảm khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục tỏa sáng.

Khi mỗi người dân đều ý thức rằng hạnh phúc của mình gắn liền với vận mệnh đất nước, khi mọi tầng lớp xã hội cùng hướng về mục tiêu chung “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thì đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ thực sự trở thành “nguồn năng lượng tinh thần vô tận” đưa dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường phát triển phồn vinh và hội nhập.


1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.10, tr. 104.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 513.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 24.
4. Ban Chấp hành Trung ương: Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.
5.  Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 172.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin