Bảo đảm thực hiện nguyên tắc quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013

CT&PT - Tôn trọng và bảo vệ nhân quyền là một chủ trương nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ trong bản Tuyên ngôn độc lập và trong Hiến pháp của Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam luôn xác định quyền con người là giá trị chung của nhân loại, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững.

1. Nguyên tắc quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013

“Nguyên tắc” được hiểu là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”1. Theo đó, có thể hiểu, nguyên tắc quyền con người là những tư tưởng, luận điểm cơ bản, chủ đạo về vấn đề quyền con người được thể hiện trong Hiến pháp, pháp luật của quốc gia. Ở Việt Nam, các nguyên tắc này được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 với tư cách là đạo luật gốc của quốc gia và được cụ thể hóa thành các quy phạm pháp luật trong chế định quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp năm 2013 xác định các nguyên tắc quyền con người, quyền công dân như sau:

Một là, nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Nguyên tắc này được quy định tại khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 như sau: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Hiến pháp năm 2013 đã xác định rõ ràng, minh bạch và có thiện chí trách nhiệm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân như là những giá trị trân quý nhất và là lẽ sống duy nhất của chính mình2. Nhà nước là chủ thể chịu trách nhiệm đầu tiên và sau cùng trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Nguyên tắc này yêu cầu Nhà nước phải “công nhận” quyền con người, quyền công dân, điều này thể hiện thông qua các hành vi như ghi nhận trong quy định của Hiến pháp, pháp luật; gia nhập, nội luật hóa và thực hiện các công ước quốc tế về quyền con người một cách tận tâm, thiện chí. “Tôn trọng” có nghĩa là Nhà nước phải kiềm chế các hành vi cản trở việc thụ hưởng quyền con người, quyền công dân. “Bảo vệ” đòi hỏi Nhà nước phải có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền con người, quyền công dân từ bên thứ ba và từ chính các nhân viên nhà nước. “Bảo đảm” tức là Nhà nước phải tạo những điều kiện thuận lợi nhất để cá nhân có thể thực hiện được quyền con người, quyền công dân của mình.

Hai là, nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân.

Nguyên tắc này được quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 như sau: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Đây là một nội dung quan trọng của Hiến pháp năm 2013 cũng như lịch sử lập hiến Việt Nam khi lần đầu tiên quy định nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân; bảo đảm phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người. Theo đó, để hạn chế quyền con người, quyền công dân cần thỏa mãn đồng thời các điều kiện: (i) Chủ thể duy nhất có quyền hạn chế quyền con người, quyền công dân là Quốc hội và chỉ được thể hiện thông qua hình thức là ban hành luật; (ii) Sự hạn chế quyền con người, quyền công dân phải thực sự cần thiết và tương xứng giữa mục đích và phương tiện trong hoạt động quản lý xã hội của Nhà nước3; (iii) Các lý do của hạn chế quyền con người, quyền công dân là bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Ba là, nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 16 Hiến pháp năm 2013 như sau: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Theo đó, tất cả mọi người không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội đều được đối xử một cách như nhau, công bằng trước pháp luật và trong tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Mọi người đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, bình đằng về trách nhiệm pháp lý, bình đằng giữa Nhà nước và công dân. Đây cũng là một yêu cầu trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là pháp luật giữ vị trí tối thượng, không một cá nhân, tổ chức nào có thể đứng trên pháp luật. Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu, Nhà nước phải xây dựng cơ chế phòng ngừa sự phân biệt đối xử giữa các cá nhân và tạo được môi trường bình đẳng về cơ hội một cách toàn diện.

Bốn là, nguyên tắc quyền con người, quyền công dân không tách rời nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội, nghĩa vụ công dân.

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 15 Hiến pháp năm 2013 như sau: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Mọi người đều có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác. Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Nguyên tắc này thể hiện tính thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ, trong xã hội dân chủ, không thể có quyền tách rời nghĩa vụ hoặc phải gách vác nghĩa vụ mà không có quyền. Nội dung này phù hợp với quy định của Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948: “Ai cũng có nghĩa vụ đối với cộng đồng mà trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ”, nhằm hướng tới xây dựng một xã hội trong đó lợi ích của cá nhân được đặt hài hòa trong lợi ích của người khác, cộng đồng, xã hội, quốc gia, dân tộc.

2. Thực trạng thực hiện nguyên tắc quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam

2.1. Những kết quả đạt được

Kể từ khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực thi hành, Việt Nam luôn thực hiện có hiệu quả các nguyên tắc quyền con người, quyền công dân, không chỉ minh định trong hệ thống pháp luật mà còn triển khai trong thực tiễn.

Hệ thống pháp luật Việt Nam đã ghi nhận đầy đủ các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và các công ước quốc tế về quyền con người như quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, quyền có nơi ở hợp pháp, quyền tự do đi lại và cư trú, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền tự do ngôn luận, quyền việc làm… Đồng thời, Nhà nước cũng thiết lập cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân thông qua chế tài xử phạt các hành vi xâm phạm quyền con người, quyền công dân của bên thứ ba với nhiều cấp độ khác nhau như chế tài hành chính, chế tài hình sự; đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức còn phải chịu thêm chế tài kỷ luật. Nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân, Nhà nước cũng ban hành và thực thi nhiều chính sách tạo cơ hội cho các cá nhân hưởng thụ quyền như tập trung vào thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo; hỗ trợ người nghèo vượt lên mức sống tối thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống. Tổng nguồn vốn được huy động để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025 là 75.000 tỷ đồng (tương đương 03 tỷ USD). Thu nhập bình quân đầu người tăng trưởng tích cực, năm 2023 đạt hơn 100 triệu đồng (tương đương với 4.000 USD), tăng 25% so với năm 20194.

Thực hiện nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, Việt Nam đã bảo đảm tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án, quyền của người dân được xét xử công bằng và theo đúng trình tự, phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Các bản án cũng được công khai trên mạng internet, tạo cơ hội bình đẳng cho người dân tiếp cận công lý và góp phần nâng cao nhận thức của người dân trước pháp luật. Hiện nay, Quốc hội cũng đang thảo luận dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi), trong đó có nội dung tăng tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án.

2.2. Những khó khăn, thách thức

Thứ nhất, nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân được ghi nhận tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 chưa minh định về việc tất cả các quyền đều có thể bị hạn chế hay chỉ có thể hạn chế đối với một số quyền, chưa làm rõ thế nào là “trường hợp cần thiết”, “lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”, trong khi đây là những nội dung quan trọng, cần phải làm rõ nhằm kiểm soát tình trạng tùy tiện thực hiện những hành vi hạn chế quyền con người, quyền công dân từ chính các cơ quan nhà nước.

Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 chưa quy định về vấn đề tạm đình chỉ quyền con người, quyền công dân, cũng như các ngoại lệ của việc tạm đình chỉ thực hiện quyền. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc này cũng cho thấy, có cơ quan nhà nước khi ban hành văn bản pháp luật đã hạn chế các quyền con người, quyền công dân đến mức vi phạm, can thiệp vào các quyền con người, quyền công dân[5], chẳng hạn, chính quyền một số địa phương đã ban hành văn bản quản lý hành chính có quy định hạn chế quyền như quy định nghiêm cấm cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên, học sinh trên địa bàn bình luận, thích (like), chia sẻ (share), đăng nội dung các vấn đề liên quan đến chế độ chính sách, chính trị, tôn giáo, làm ảnh hưởng đến uy tín của người khác. Quy định này đã vi phạm quyền tự do ngôn luận theo Hiến pháp năm 2013, bởi lẽ, việc chia sẻ, bình luận thông tin là quyền của mỗi công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm và hành vi đó không vi phạm pháp luật.

Thứ ba, một số quyền con người, quyền công dân mặc dù đã được ghi nhận như quyền lập hội, biểu tình… và Hiến pháp năm 2013 xác định việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn chưa có cơ chế cụ thể để cá nhân có thể thực hiện quyền của mình.

3. Yêu cầu và định hướng bảo đảm, thúc đẩy quyền con người trong tình hình mới

Việc thực hiện bản Hướng dẫn số 02-HD/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng CSVN Khóa XII về tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận trên lĩnh vực quyền con người là nhiệm vụ vừa mang tính cơ bản, vừa mang tính cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân trong điều kiện tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến khó lường, nhất là những tác động tiêu cực của chủ nghĩa bảo hộ, cực đoan, tình hình thiên tai, dịch bệnh, xung đột sắc tộc, tôn giáo; tranh chấp lãnh thổ. Việc thực hiện Hướng dẫn số 02 đã tạo những điều kiện thuận lợi để phát triển bền vững đất nước, tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời đập tan những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng tự do, dân chủ, nhân quyền, dân tộc để chống phá Đảng CSVN và Nhà nước Việt Nam.

Đối với lĩnh vực quyền con người, theo Kết luận của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về tiếp tục thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 44-CT/TW, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân các cấp cần tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ như sau.

Một là, tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặc biệt là hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người theo Hiến pháp năm 2013; đưa các quy định về quyền con người vào cuộc sống một cách hiệu quả, thiết thực, phù hợp điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Chú trọng và đẩy mạnh hơn nữa cải cách tư pháp, cải cách hành chính; mở rộng, tăng cường dân chủ ở cơ sở. Phát huy mạnh mẽ những thành tựu của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, bảo đảm ngày càng tốt hơn và thúc đẩy quyền con người trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt giảm nghèo bền vững và bảo đảm quyền của những nhóm dễ bị tổn thương.

Hai là, đổi mới tư duy, chủ động mở rộng phạm vi, đa dạng hóa hình thức, nội dung, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục quyền con người, nhất là thông tin, tuyên truyền đối ngoại về những thành tựu bảo đảm quyền con người của Việt Nam, được cộng đồng quốc tế thừa nhận; chủ động, kịp thời đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc về quyền con người ở nước ta.

Ba là, đẩy mạnh hơn nữa hợp tác quốc tế trên lĩnh vực quyền con người nhằm thúc đẩy việc thực hiện các chính sách, pháp luật về bảo đảm quyền con người gắn với nâng cao hiệu quả tiến trình hội nhập quốc tế. Trong quá trình đó, cần tăng cường đối thoại để nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, từng bước thu hẹp bất đồng và những sự hiểu biết khác nhau giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế trong vấn đề dân chủ, quyền con người; đồng thời kiên quyết bảo vệ quan điểm, lập trường, lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam, đấu tranh ngăn chặn một cách hiệu quả các hoạt động lợi dụng vấn đề dân chủ, quyền con người để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

1. Viện Ngôn ngữ học (1996), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, tr. 672.

2. Nguyễn Đăng Dung, Trương Đắc Linh, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, Nguyễn Văn Trí (2011), “Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp - Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam”, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr. 39 - 47.

3. Lưu Đức Quang (2016), “Nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân”, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 74.

4. Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đảy quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV.


ThS. NGUYỄN THỊ THU NHI

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Link nội dung: https://chinhtrivaphattrien.vn/bao-dam-thuc-hien-nguyen-tac-quyen-con-nguoi-quyen-cong-dan-trong-hien-phap-nam-2013-a9012.html