Một số giải pháp thực hiện hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương hiện nay

CT&PT - Quản lý nhà nước về kinh tế là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực nhà nước thông qua cơ chế quản lý kinh tế, nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân. Là một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, Việt Nam không chỉ cần tích cực, khẩn trương trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật kinh tế, mà còn phải đổi mới sâu sắc cả về tư duy và phương pháp thực hiện. 

Quản lý nhà nước (QLNN) trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nền kinh tế đất nước. Nhà nước là chủ thể chính, có vai trò định hướng, điều tiết, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Theo đó, Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng việc thiết lập thể chế phù hợp với sự phát triển, xây dựng các quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển tổng thể các ngành kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng và bảo đảm an sinh xã hội; ban hành các cơ chế, chính sách về phân bổ nguồn lực, phân phối và phân phối lại theo hướng bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, góp phần xây dựng nền kinh tế nói chung và xây dựng đất nước nói riêng ngày càng phát triển, tiến bộ, văn minh. Do đó, QLNN đối với các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi cán bộ, công chức làm công tác QLNN phải am hiểu các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời vận dụng hiệu quả trong thực tiễn, hạn chế tối đa những rủi ro phát sinh trong quá trình tổ chức quản lý, qua đó góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý.

Hải Dương là tỉnh có nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế; có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi; sự phát triển đồng đều trong các lĩnh vực; có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực thu hút đầu tư. Trong thời gian qua, với tinh thần “thích ứng linh hoạt” với tình hình trong nước và thế giới, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh đã tích cực lãnh đạo, chỉ đạo các sở, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, linh hoạt các nhiệm vụ, góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Từ năm 2015 đến nay, UBND tỉnh Hải Dương đã chỉ đạo các sở, ban, ngành trực thuộc xây dựng các chương trình, kế hoạch và định hướng phát triển kinh tế các lĩnh vực của tỉnh, với những chức năng, nhiệm vụ đã quy định, dưới sự chỉ đạo, các cơ quan tham mưu đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, các cơ chế, chính sách trong lĩnh vực QLNN về kinh tế, đồng thời xây dựng báo cáo định kỳ 6 tháng đầu năm và 6 tháng cuối năm để UBND tỉnh tổng hợp và có số liệu về mức độ phát triển kinh tế - xã hội của toàn tỉnh.

Với mục tiêu hoạt động phát triển kinh tế của tỉnh luôn bám sát và thực hiện đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật, với chức năng là cơ quan quản lý về kinh tế, UBND tỉnh Hải Dương đã thể hiện vai trò chủ thể, định hướng và hỗ trợ các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. UBND tỉnh chủ động chỉ đạo các cơ quan chức năng xây dựng các văn bản quản lý điều hành nhằm thu hút doanh nghiệp tiềm năng ở cả trong nước và ngoài nước, tạo các điều kiện đầu tư thông thoáng và hiệu quả; chủ động bám sát và thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và các nhiệm vụ, đề án tái cơ cấu các lĩnh vực kinh tế của tỉnh. Trên cơ sở thực hiện đồng bộ, hiệu quả cơ chế, chính sách và tiến hành tổ chức thực hiện, phân công phối hợp các cơ quan, ban ngành trên địa bàn tỉnh trong lĩnh vực QLNN về kinh tế, UBND tỉnh Hải Dương coi trọng việc xây dựng quy trình, phương án, kế hoạch, phân kỳ tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn quá trình QLNN về kinh tế trên địa bàn tỉnh, nhất là các quy trình, phương án, kế hoạch, phân kỳ tổ chức thực hiện phát triển nhân lực, thu hút vốn đầu tư, phát triển khoa học và công nghệ, chính sách an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và các chính sách nhằm liên kết ngành, vùng.

Quan điểm của UBND tỉnh Hải Dương trong thúc đẩy phát triển kinh tế tỉnh, đồng thời ngăn ngừa, khắc phục các nhược điểm của nền kinh tế thị trường đó là chủ động xây dựng môi trường kinh doanh ổn định, an toàn với các cơ chế, chính sách thông thoáng, thúc đẩy các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh phát triển, đồng thời tạo thế và lực mới cho phát triển kinh tế đa thành phần, đa lĩnh vực, thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh. Nhờ thực hiện đồng bộ các giải pháp thúc đẩy kinh tế đối ngoại, xúc tiến đầu tư, môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh được cải thiện, thể hiện qua kết quả thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài. Trong 6 tháng đầu năm 2023, tỉnh thu hút được 124 dự án đầu tư trong nước, trong đó có 27 dự án cấp mới với tổng vốn đăng ký hơn 3.200 tỷ đồng. Thu hút đầu tư nước ngoài đạt 673 triệu USD, gấp đôi so với cùng kỳ năm trước. Toàn tỉnh có thêm 1.569 doanh nghiệp được thành lập với tổng vốn đăng ký đạt gần 13.300 tỷ đồng, tăng 18,5% số doanh nghiệp và 21% số vốn so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, QLNN về kinh tế của tỉnh Hải Dương vẫn còn một số hạn chế nhất định: Việc triển khai các đề án, chương trình phát triển đô thị còn chậm; thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn; tiến độ triển khai các dự án khởi công mới trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và dự án trọng điểm giao cấp huyện thực hiện giai đoạn 2021 - 2025 nhìn chung còn chậm. Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng còn một số vướng mắc cục bộ; việc sử dụng nguồn lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và bảo đảm quyền tự do kinh doanh, thu hút hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài chưa thực sự hiệu quả... Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do: công tác tham mưu, điều hành tại một số cơ quan, đơn vị chưa chủ động, chưa tích cực đôn đốc, chưa xử lý hết những khó khăn, tồn tại kéo dài, còn để chậm muộn; việc bố trí, phân công nhiệm vụ tại một số cơ quan, đơn vị chưa phù hợp; năng lực tham mưu của một số cán bộ, công chức còn hạn chế, chưa bảo đảm yêu cầu…

Để khắc phục những hạn chế, bất cập trong QLNN về kinh tế, UBND tỉnh Hải Dương cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền, UBND dân tỉnh về tăng cường QLNN về kinh tế

Theo đó cần tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nội dung và chính sách của Chính phủ và của tỉnh về hội nhập kinh tế trên địa bàn tỉnh. Từ đó, giúp cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ làm công tác QLNN về kinh tế hiểu và nắm bắt được chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực kinh tế và QLNN về kinh tế; đồng thời, nâng cao được nhận thức, vai trò của các doanh nghiệp, người dân trong quá trình tham gia thực hiện phát triển kinh tế của tỉnh. Tăng cường nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền, UBND tỉnh về xây dựng các mối quan hệ hợp tác lâu dài, cùng có lợi giữa tỉnh Hải Dương với các nước trong khu vực và quốc tế nhằm phát huy vai trò hội nhập kinh tế thông qua các hoạt động đối ngoại, giao lưu, hợp tác quốc tế, xúc tiến thương mại.

Bên cạnh đó, cần thường xuyên theo dõi, đôn đốc, nắm bắt tình hình, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách, giải pháp giúp doanh nghiệp, nhà đầu tư và các tổ chức, cá nhân đẩy nhanh tiến độ đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh, phân phối và lưu thông hàng hóa. Hỗ trợ thông tin thị trường, dự báo giá cả hàng hóa nhằm giúp các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp; từng bước hình thành chuỗi kết nối sản xuất - tiêu thụ theo cơ chế thị trường. Giải quyết, tháo gỡ về phòng cháy, chữa cháy, thủ tục hành chính về xuất nhập khẩu, quảng bá sản phẩm, chính sách ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp. Ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản xuất với các thủ tục rút gọn, nhằm sớm tạo ra giá trị gia tăng. Tiếp tục triển khai Đề án công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh. Tăng cường công tác quản lý đối với khu, cụm công nghiệp; nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến công; quy định về mức chi cho các hoạt động phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Hai là, đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương pháp quản lý kinh tế

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức QLNN về kinh tế nhằm tạo ra không gian mới, động lực mới cho sự phát triển về kinh tế - xã hội của tỉnh. UBND tỉnh cần chuyển dần chức năng “làm kinh tế” sang thực hiện tốt vai trò là “trọng tài” trong nền kinh tế; triệt để gạt bỏ cơ chế xin - cho; phân biệt rõ chức năng quản lý kinh tế, chức năng hành chính với chức năng dịch vụ công; xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, năng động và hiệu quả, lấy kết quả phục vụ người dân, doanh nghiệp làm tiêu chí đánh giá.

Đổi mới phương thức quản lý nền kinh tế thông qua việc giảm thiểu tối đa các can thiệp quá sâu bằng mệnh lệnh hành chính, sự tham gia trực tiếp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế vĩ mô, hoạt động của thị trường và doanh nghiệp. Thay vào đó, cần chuyển sang phương thức quản lý, điều hành gián tiếp, có tính định hướng và giám sát nhiều hơn, tập trung vào quản lý kinh tế vĩ mô bằng pháp luật và biện pháp kinh tế là chủ yếu; điều tiết nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, hoạch định chính sách để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của tỉnh, trên cơ sở các nguyên tắc của thị trường.

Ba là, hoàn thiện chính sách tăng cường nguồn lực tổ chức thực hiện QLNN về kinh tế

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế của tỉnh. Để hoàn thiện chính sách QLNN về kinh tế của UBND tỉnh, cần xây dựng các tiêu chí về đầu tư để lựa chọn, ưu tiên thu hút đầu tư phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển ngành, lĩnh vực, địa bàn. Đồng thời, đổi mới cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư; xây dựng, bổ sung cơ chế khuyến khích đối với các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, thực hiện tốt cam kết; phân biệt ưu đãi giữa các ngành, nghề đầu tư khác nhau. Có chính sách khuyến khích hợp tác, chuyển giao công nghệ dựa trên cơ sở thỏa thuận, tự nguyện. Áp dụng nguyên tắc ưu đãi đầu tư gắn với việc đáp ứng các điều kiện, cam kết cụ thể và cơ chế hậu kiểm, yêu cầu bồi hoàn khi vi phạm các cam kết. 

Huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, nâng cao tỷ lệ thu hút đầu tư của khu vực ngoài nhà nước; phấn đấu đạt tỷ lệ vốn đầu tư trong tổng sản phẩm trên địa bàn đạt trên 33%. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến, kêu gọi đầu tư. Tập trung thu hút đầu tư trong và ngoài nước, ưu tiên thu hút các dự án đầu tư nước ngoài có hàm lượng khoa học công nghệ cao, quy mô vốn lớn, tạo việc làm ổn định cho người lao động. Đẩy mạnh các hoạt động xã hội hóa, nhất là trong lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa và tăng cường các nguồn thu hợp pháp cho đầu tư phát triển; tăng cường thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công tư và các hình thức góp vốn, liên danh, liên kết.

Bốn là, nâng cao năng lực và hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động

Tiếp tục bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kiến thức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, người lao động làm công tác QLNN về kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế. Tạo điều kiện, cơ hội cho đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động được học tập, trải nghiệm thực tiễn để nâng cao trình độ, kinh nghiệm. Từ đó phát huy năng lực và hiệu quả làm việc. Đồng thời, tạo sự tham gia rộng rãi của người dân, các cơ quan thông tin đại chúng trong việc giám sát hoạt động công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra.

Phát triển giáo dục nghề nghiệp, gắn kết công tác đào tạo nghề với thị trường lao động, đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao. Phát triển nhân lực là người lao động có kỹ năng nghề nghiệp, góp phần nâng cao năng suất lao động và tăng năng lực cạnh tranh; tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Triển khai công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Thực hiện đề án nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số. Tăng cường sự lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện tốt các hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành kinh tế thực chất, hiệu quả gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh

Mục đích của giải pháp này là nhằm tạo tiền đề cho việc thực hiện các mục tiêu lâu dài đã được xác định trong Quy hoạch tỉnh, các Chương trình, Kế hoạch hành động về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo Nghị quyết Trung ương 6 khóa XIII. Cơ cấu lại các ngành sản xuất và dịch vụ gắn với đổi mới sáng tạo, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ. Phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả; bảo đảm an ninh lương thực. Phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu, tăng tỷ trọng các ngành chế biến, chế tạo. Phát triển các loại hình dịch vụ mới, ứng dụng công nghệ cao.

Tiếp tục đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh bình đẳng; đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động, phát huy vai trò của thành phần kinh tế hợp tác và hộ cá thể trên địa bàn. Ban hành quy định hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2023 - 2027; phát triển cả về số lượng và quy mô vốn đăng ký của các doanh nghiệp; phấn đấu số doanh nghiệp thành lập mới tăng trên 15%.

Sáu là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số; cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính và xây dựng, phát triển chính quyền điện tử, chính quyền số, tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ theo Đề án 06 của Chính phủ về phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030; tiếp tục rà soát sắp xếp tổ chức bộ máy bên trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập đảm bảo tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng kế hoạch, đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã theo chỉ đạo của Trung ương; triển khai kế hoạch tuyển dụng viên chức ngành giáo dục và công chức cấp xã theo quy định.

Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch và công bằng cho các thành phần kinh tế phát triển. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cao các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đi đôi với việc nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Tăng cường công tác quản lý đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện; rà soát, kiến nghị để đưa ra khỏi danh mục đối với những ngành nghề không còn phù hợp hoặc có thể áp dụng các biện pháp quản lý khác hiệu quả hơn. Tăng cường các hoạt động và các loại hình dịch vụ để hỗ trợ doanh nghiệp và các thành phần trong nền kinh tế.

Bảy là, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát; tăng cường đối ngoại, mở rộng cơ hội, nâng cao vai trò, vị thế của tỉnh

Thường xuyên đẩy mạnh các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy hoạch, chương trình, chính sách phát triển kinh tế của tỉnh, trong đó tập trung kiểm tra đột xuất, kiểm tra sâu, kiểm tra quy trình, tiến độ tổ chức thực hiện đối với các đối tượng tham gia vào quá trình kinh doanh trên địa bàn toàn tỉnh. UBND tỉnh và các cơ quan chức năng trong QLNN về kinh tế các cấp xây dựng kế hoạch hằng năm, tổ chức giám sát việc thực hiện quy hoạch, chương trình và các chính sách phát triển kinh tế trên địa bàn, đồng thời giám sát, đôn đốc việc thực hiện các kết luận giám sát, kiểm tra, thanh tra về việc thực hiện quy hoạch, chính sách phát triển kinh tế của địa phương; các cơ quan chuyên môn cần phải phối hợp chặt chẽ và thường xuyên để phát hiện những sai phạm, qua đó ngăn chặn và xử lý kịp thời các vụ vi phạm làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn toàn tỉnh. Triển khai, thực hiện tốt các đợt thanh tra theo kế hoạch và thanh tra đột xuất, thanh tra chuyên đề, nâng cao chất lượng các cuộc thanh tra và việc thực hiện kết luật sau thanh tra. Tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng; thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, nhất là công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức; thực hiện quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; xây dựng và thực hiện tốt các chế độ, định mức, tiêu chuẩn.

Trong thời gian tới, tỉnh Hải Dương cần tiếp tục phát huy hiệu quả các thỏa thuận quốc tế đã có để tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ quốc tế, tiếp thu tri thức về quản lý và ứng dụng khoa học, công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, du lịch, văn hóa, giáo dục và đào tạo, y tế, môi trường và các lĩnh vực khác. Tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế bỏ vốn tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh và xây dựng kết cấu hạ tầng. Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; tạo hành lang pháp lý với các cơ chế, chính sách đồng bộ, công khai, minh bạch để thu hút vốn từ khu vực tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài đầu tư sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng với những hình thức phù hợp, trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước - nhà đầu tư và lợi ích toàn xã hội.


TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025.

2. Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương, Báo cáo số 103/BC-UBND, ngày 10/07/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương về tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2023.

LÊ QUÝ ĐÔN

Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương

Link nội dung: https://chinhtrivaphattrien.vn/mot-so-giai-phap-thuc-hien-hieu-qua-quan-ly-nha-nuoc-ve-kinh-te-cua-uy-ban-nhan-dan-tinh-hai-duong-hien-nay-a8513.html