Chủ nhật, 25/09/2022 01:50:31 (GTM +7)

Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong phát triển du lịch dựa vào cộng đồng - Bài học cho Việt Nam

Đăng lúc: 08:47 29-08-2022 |  Lượt xem: 37

CT&PT - Du lịch dựa vào cộng đồng (CBT - Community Based Tourism) là loại hình du lịch gắn kết việc thăm quan danh lam thắng cảnh với các hoạt động văn hóa, xã hội, tìm hiểu cuộc sống của người dân bản địa. Du lịch dựa vào cộng đồng được hình thành và phát triển ở nhiều nước châu Âu từ thập niên 80 của thế kỷ XX và loại hình du lịch này đang được khai thác ở các nước châu Á, trong đó có Việt Nam những năm gần đây. Do đó, việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới để từ đó rút ra những bài học cho việc phát triển du lịch dựa vào cộng đồng ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

1. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Huy động cộng đồng tham gia vào quy hoạch du lịch sinh thái và xây dựng các mô hình quản lý của cộng đồng phù hợp cho phát triển du lịch sinh thái - Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng của Inđônêxia

Cục Quản lý Tác động Môi trường (BAPEDAL) của Inđônêxia được thành lập đã đề ra nhiều chính sách và phát triển một số quy hoạch mẫu du lịch sinh thái gắn với cộng đồng. Cục đã họp bàn và thảo luận về quy hoạch và định hướng có sự tham gia của cộng đồng bao gồm nhiều vấn đề: từ những quan điểm về du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường, đến quản lý và phân phối thu nhập, đào tạo và các vấn đề khác1...

Cộng đồng ngày càng được trao quyền rộng hơn trong các quy hoạch du lịch sinh thái tại các khu vực phát triển du lịch sinh thái. Dựa vào chương trình nghị sự toàn cầu 21 năm 1992 và nguyên tắc chỉ đạo chung cho sự phát triển du lịch trong nước, Bộ Môi trường Inđônêxia đã soạn thảo một báo cáo cấp quốc gia, được gọi là: Chương trình nghị sự 21 - Inđônêxia. Trong 5 nguyên tắc thì có một nguyên tắc rất quan trọng liên quan đến quy hoạch du lịch sinh thái gắn với cộng đồng với ba (03) yêu cầu quan trọng thể hiện tại Bảng 1.

Bảng 1. Một số yêu cầu quy hoach du lịch sinh thái gắn với cộng đồng tại Inđônêxia

STT

Yêu cầu

Nguyên tắc

1

Yêu cầu 1

Thiết lập mối liên kết với các cộng đồng địa phương trong quá trình quy hoạch và phát triển du lịch sinh thái

2

Yêu cầu 2

Thông báo rõ ràng và trung thực cho cộng đồng địa phương về mục đích và ý đồ phát triển trên khu vực

3

Yêu cầu 3

Dành cho cộng đồng địa phương quyền tự do chấp nhận hay từ chối các dự án phát triển du lịch sinh thái trong khu vực

Nguồn: Chương trình nghị sự 21 - Inđônêxia, năm 2010.

Mặt khác, để triển khai tốt hoạt động du lịch sinh thái cộng đồng thì cần phải có mô hình quản lý phù hợp. Các mô hình được xây dựng thường được xem xét dựa trên quy mô, đặc tính văn hóa và các đặc trưng của vùng điều quan trọng là phải lôi kéo và mang lại lợi ích cho hầu hết các hộ dân địa phương. Tại dự án phát triển du lịch sinh thái tại vườn Quốc gia (VQG) Gunung Halimum (Tây Java - Inđônêxia), với mục tiêu phát triển là bảo tồn và sử dụng bền vững tính đa dạng sinh học trên cơ sở trao quyền cho cộng đồng địa phương. Người ta đã thành lập một tổ chức cộng đồng địa phương (KSM). KSM có một hội đồng các ủy viên (bao gồm đại diện các làng nghề, địa phương của chính phủ, phi chính phủ, và đại diện VQG). Trong đó, cộng đồng địa phương đã được chủ động bầu ra một ban điều hành gồm: một nhà lãnh đạo (ketua), thư ký, thủ quỹ v.v. được lập ra để điều hành hoạt động. Kiểu hoạt động này giống như hợp tác xã ở Việt Nam. KSM cùng với các tổ chức khác cũng tham gia tích cực vào công tác bảo vệ môi trường thông qua việc tuyên truyền cho du khách, cộng đồng địa phương bằng các tài liệu quảng cáo, trekking, các bản đồ, video v.v.. Số liệu thu được cho thấy dự án ở Gunung Halimun trong năm 1998 đã thu hút 80% khách du lịch trong nước và 20% khách quốc tế. Thu nhập bình quân của mỗi hộ gia đình được chia từ 11% lợi tức của KSM khoảng Rupiad 178.000/gia đình/năm2.

Triển khai các chương trình đào tạo du lịch sinh thái cho cộng đồng và thu hút doanh nghiệp du lịch, các cơ quan và tổ chức quan tâm đến việc phát triển du lịch cộng đồng

Đào tạo, tập huấn cho các thành phần tham gia cung ứng dịch vụ du lịch dựa vào cộng đồng là một trong những công tác quan trọng. Điều này sẽ giúp trao quyền cho cộng đồng có thể tham gia và hưởng lợi từ du lịch dựa vào cộng đồng.

Thái Lan thành lập Cục Phát triển các Vùng Du lịch Bền vững (DASTA - Development Designated Areas for Sustainable Tourism Administration). Đây là một cơ quan thuộc nhà nước chịu trách nhiệm về Quy hoạch tổng thể phát triển bền vững các khu du lịch được chỉ định; xây dựng chiến lược về du lịch cộng đồng, du lịch giảm thiểu carbon, và du lịch sáng tạo. Cho tới nay, DASTA đã xây dựng được 14 mô hình du lịch cộng đồng với tiêu chí cùng sáng lập, phương pháp tiếp cận có sự tham gia, và tiếp cận từ dưới lên.

Cục Phát triển các Vùng Du lịch Bền vững đã triển khai các kế hoạch hành động cho du lịch dựa vào cộng đồng rất cụ thể, trong đó tập trung vào các kế hoạch đào tạo nghề du lịch và phát triển nghề thủ công phục vụ du lịch như: kế hoạch phát triển nhân sự cho du lịch dựa vào cộng đồng; chương trình đào tạo nghề phục vụ du lịch; chương trình phát triển nghề thủ công... Các các bên liên quan tham gia du lịch cộng đồng được tập trung đào tạo gồm quản lý, nhà cung cấp dịch vụ, cơ quan bảo tồn, và người dân địa phương... Căn cứ vào tình hình thực tiễn của từng điểm tài nguyên, từng vùng du lịch sẽ triển khai từng kế hoạch cụ thể.

Đặc biệt, một trong những thành công của nhiều nước ASEAN như Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia… đó là đã lôi kéo được các doanh nghiệp du lịch, hiệp hội, các tổ chức xã hội quan tâm và có trách nhiệm trong việc phát triển du lịch sinh thái cộng đồng. Tại nhiều nước, bên cạnh những cơ chế bắt buộc người ta còn đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho doanh nghiệp có trách nhiệm với cộng đồng như: tuyển người địa phương vào làm việc, khuyến khích sản xuất và sử dụng các sản phẩm do địa phương sản xuất v.v.. Một ví dụ cụ thể là tại “Sua Bali” (Gianyar, Bali - Inđônêxia) - Một khu du lịch nhỏ đã nhận được giải thưởng du lịch có trách nhiệm với xã hội tại Berlin (Đức) năm 1996. Đến với “Sua Bali” ngoài việc thư giãn, du khách còn có thể học tiếng Inđônêxia cũng như nghệ thuật truyền thống của Bali như: nghề thủ công, khắc gỗ, nấu ăn... Họ được coi là một phần của cộng đồng, đổi lại họ phải tặng 1 USD để bảo tồn khi đến làng. Khu du lịch Sua Bali là hình mẫu trong việc tạo sự hưởng lợi cho cộng đồng của doanh nghiệp. Đây là bài học cho Việt Nam trong việc phát triển du lịch sinh thái cộng đồng.

Phát triển du lịch sinh thái phải gắn với việc mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương - Kinh nghiệm của Campuchia

Gần đây, du lịch Campuchia có dấu hiệu phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, Bộ Du lịch Campuchia đã triển khai nhiều dự án du lịch sinh thái gắn với cộng đồng nhằm bảo tồn các tài nguyên văn hóa, tự nhiên và mang lại lợi uchs cho cộng đồng dân cư.

Campuchia đã thành công trong việc phát triển của các điển hình tốt dựa trên “phương pháp tiếp cận có sự tham gia” của nguyên tắc 4P và 5A, gồm: Public - Private - People - Partnership (Mối quan hệ đối tác Công - Tư - Người dân) và Attitude - Access - Accommodations - Attractions - Advertising (Thái độ - Khả năng tiếp cận điểm đến - Cơ sở lưu trú - Điểm thu hút - Quảng cáo).

Cụ thể tại dự án du lịch sinh thái cộng đồng làng Koh Pdao và Sampin, huyện Sambo thuộc tỉnh Kratie. Đây là khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và có 405 gia đình sinh sống với 2066 người (Su Mao, 2008). Được sự hỗ trợ của tổ chức Oxpham, tổ chức Cambodian Rural Development Team (CRDT) đã phối hợp với hội đồng xã để xúc tiến thành lập các tổ chức xã hội dân sự (CSO). Một ban điều hành cộng đồng được thành lập mang tên “Koh Pdao Mekong Eco-Tourism Committee” với 51 thành viên trong đó có 34 phụ nữ để điều hành hoạt động du lịch sinh thái cộng đồng. Đến với khu vực này, du khách có thể tìm hiểu về đời sống người dân Khmer và thưởng thức điệu múa Khmer truyền thống hoặc chuẩn bị các món ăn Khmer địa phương, đi dạo trong làng hay vào rừng, tham gia vào các hoạt động của dự án như đào ao cá, ao ếch, chơi thể thao (bóng đá hoặc bóng chuyền) với trẻ em hoặc dạy tiếng Anh cho trẻ em địa phương… Sau một vài năm phát triển du lịch sinh thái cộng đồng, phúc lợi và cuộc sống của người dân nơi đây đã thay đổi nhanh chóng, trở thành một điểm đến hấp dẫn cho du khách tại đất nước chùa tháp.

Năm 2007, mô hình du lịch cộng đồng của Chi Phat được thành lập với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Liên minh cứu hộ động vật hoang dã, chuyển đổi sinh kế thông qua hoạt động du lịch, giảm bớt nguy cơ phá hủy các nguồn tài nguyên thiên nhiên của địa phương.

Cơ chế tài chính: Các nguồn thu tài chính cho mô hình du lịch cộng đồng của Chi Phat từ các tổ chức phi chính phủ và từ khách du lịch. 20% tổng số đó được đóng góp cho quỹ phát triển du lịch cộng đồng, trong đó: Tiết kiệm 14%; Chi phí cho vận hành dự án, duy trì sản phẩm, hoạt động và thu gom rác thải 25%; Phát triển cộng đồng, đường xá, trường học, chùa, cầu và các công trình công cộng 2%; Hỗ trợ kiểm lâm 5%; Marketing 7%; Hỗ trợ người già và hoạt động từ thiện 1%; Hỗ trợ Ban Quản lý du lịch cộng đồng 45%; Hỗ trợ quỹ tham gia phát triển du lịch sinh thái 1%3.

2. Bài học cho phát triển du lịch dựa vào cộng đồng ở tỉnh Lâm Đồng

Thứ nhất, đánh giá đúng tiềm năng, thế mạnh, đề ra mục tiêu phù hợp và chủ động, tích cực thực hiện. Lãnh đạo địa phương cần có sự chỉ đạo sâu sắc, tập trung khảo sát, đánh giá kỹ, phân tích sự khác biệt về tiềm năng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng giữa địa phương mình và các tỉnh trong khu vực. Các địa phương nên xây dựng đề án “Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng” để có đầy đủ cơ sở khoa học trong việc triển khai thực hiện.

Thứ hai, trao quyền rộng hơn cho cộng đồng trong việc quy hoạch du lịch sinh thái tại các điểm tài nguyên. Quy hoạch phải dựa vào các nguyên tắc sau: (1) Có sự tham gia của cộng đồng địa phương; (2) Quy hoạch phải hướng đến việc bảo tồn tài nguyên và văn hóa cộng đồng; (3) Tận dụng tài nguyên vốn có và vật liệu của địa phương; (4) Thiết kế mô hình phù hợp với cảnh quan và đặc điểm của cộng đồng; (5) Tính đến sự bền vững lâu dài và đảm bảo lợi ích của cộng đồng.

Thứ ba, đặc biệt cộng đồng cư dân nơi du lịch phát triển phải được hưởng lợi từ việc phát triển du lịch cộng đồng. Du lịch dựa vào cộng đồng có thể dựa vào địa phương, dựa vào chính phủ, dựa vào các tổ chức… nhưng không thể thiếu người dân. Người dân mới chính là nhân tố không thể thiếu của mô hình này. Do đó, khi phát triển mô hình du lịch dựa vào cộng đồng cần chú trọng đến việc phân chia lợi ích bình đẳng cho các chủ thể này.

Thứ tư, sự đồng thuận, phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các địa phương, đoàn thể trong hệ thống chính trị cùng vào cuộc để hỗ trợ, tạo điều kiện cho cộng đồng khởi nghiệp cùng tham gia khai thác tiềm năng, phát triển du lịch theo hướng bền vững.

Thứ năm, định vị, xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù, hấp dẫn, tránh trùng lặp cho từng khu điểm để tạo sự phong phú và nét riêng cho du lịch địa phương để có thể  khắc phục những yếu kém về tình trạng sản phẩm du lịch trùng lặp gây nhàm chán, kém hấp dẫn đối với du khách.

Thứ sáu, liên kết để cùng phát triển. Các địa phương tham gia vào các cụm liên kết với các địa phương khác và các quốc gia lân cận để có thể tạo ra các tuyến tour du dịch hấp dẫn, phong phú và quảng bá mô hình của mình đến với du khách trong nước và quốc tế.

Thứ bảy, xây dựng các mô hình quản lý du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng phù hợp. Cần nghiên cứu các mô hình trên thế giới và thực tế tại Việt Nam để xây dựng các mô hình quản lý phù hợp với đặc thù từng khu vực, từng điểm tài nguyên. Trước mắt, có thể xem xét thành lập thí điểm các ban quản lý cộng đồng do người dân bầu ra tại một số khu vực, điểm tài nguyên để điều hành hoạt động tại các khu vực này. Điều này không chỉ mang lại lợi ích mà còn nâng cao trách nhiệm của cộng đồng trong việc phát triển hoạt động du lịch và bảo vệ nguồn tài nguyên khu vực.

Thứ tám, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, các tổ chức đối với cộng đồng địa phương. Cần có các chính sách cụ thể nhằm nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, doanh nghiệp tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái. Cần có quy định cụ thể nhằm khuyến khích các khu du lịch, khách sạn, khu giải trí v.v. do các doanh nghiệp đầu tư tại các điểm tài nguyên mang lại lợi ích cho cộng đồng (Benefical approach) như tiếp nhận con em địa phương vào làm việc, sử dụng các sản phẩm địa phương, phát triển các sản phẩm phục vụ du khách do cộng đồng phục vụ (biểu diễn nghệ thuật truyền thống, hướng dẫn nấu món ăn địa phương, dạy nghề thủ công…).

Thứ chín, làm du lịch cần bắt đầu từ những việc nhỏ nhất, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Đặc biệt, cần tập trung cho những công việc tốn ít kinh phí đầu tư để làm trước. Ví dụ: Công tác vệ sinh môi trường, an ninh, an toàn, phong cách phục vụ thân thiện; phát triển nguồn nhân lực, bao gồm cả nhân lực quản lý và nhân lực trực tiếp lao động trong các nhà hàng, khách sạn, khu điểm du lịch; nâng cao chất lượng, kỹ năng, tính chuyên nghiệp trong phục vụ; hỗ trợ đào tạo nhằm nâng cao nhận thức và các kiến thức, kỹ năng cơ bản về du lịch cho người lao động tại điểm đến, nơi cộng đồng, hộ làm du lịch cộng đồng.

TS. NGUYỄN THỊ OANH

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật


1. Manurung, Ricardo: “Ecotourism in Indonesia”, Linking green productivity to Ecotourism: Experiences in the Asia Pacific Region, APO - Tokyo, 2002.

2. Dalem, Anak Agung Gde Raka: “Ecotourism in Indonesia, Chapter Ten”, Linking green productivity to Ecotourism: Experiences in the Asia Pacific Region, APO - Tokyo, 2002.

3. Bou Chan Serey, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển Du lịch & Hợp tác Quốc tế, Bộ Du lịch Campuchia: Tham luận tại Hội thảo Đào tạo Đào tạo viên về Tiêu chuẩn Du lịch cộng đồng ASEAN trong khuôn khổ hợp tác Mekong-Lancang, ngày 8-12/5/2018, SiemReap, Campuchia.

Chia sẻ:

Kiểm soát quyền lực gắn với phát huy vai trò của người đứng đầu 22/09/2022
CT&PT - Thực tiễn đời sống chính trị cho thấy, càng đi vào quá trình phát triển hiện đại hóa, quyền lực càng có nguy cơ bị lạm dụng, tha hóa, song, nhu cầu, quyết tâm, kỹ năng và năng lực kiểm soát quyền lực để quyền lực phục vụ cho mục tiêu phát triển xã hội bền vững cũng có xu hướng ngàng càng khả thi, hiệu quả hơn. Kiểm soát quyền lực nói chung và kiểm soát quyền lực của người đứng đầu nói riêng ở nước ta hiện nay đang là vấn đề được Đảng, Nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm ở cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Bài viết đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy “mục tiêu kép” kiểm soát quyền lực gắn với phát huy vai trò của người đứng đầu trong các cơ quan, tổ chức quyền lực ở Việt Nam hiện nay.
Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phù hợp với quy luật và thực tiễn 21/09/2022
CT&PT - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phản ánh tính phổ biến (quy luật) vì trong mọi nhà nước dân chủ đều thể hiện rõ vai trò chi phối của đảng chính trị trong hầu hết các hoạt động và tổ chức của nhà nước. Nó phản ánh điều kiện chính trị trong nước: Đảng Cộng sản Việt Nam có quá trình gắn bó máu thịt với nhân dân, với dân tộc qua cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vai trò lãnh đạo của Đảng được cả dân tộc thừa nhận và suy tôn.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, góp phần kiểm soát quyền lực và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước 12/09/2022
CT&PT - Cùng với các chức năng lập hiến, lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước thì giám sát tối cao của Quốc hội có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong cơ chế tổ chức, vận hành, thực thi và kiểm soát quyền lực của nhà nước. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang 76 năm qua, quán triệt sâu sắc Cương lĩnh, quan điểm, đường lối của Đảng, trước yêu cầu nhiệm vụ phát triển đất nước thời kỳ mới, Quốc hội tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, cách làm để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát tối cao.