Chủ nhật, 25/09/2022 03:41:15 (GTM +7)

Bản chất lý luận về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đăng lúc: 10:45 09-08-2022 |  Lượt xem: 81

CT&PT - Bản chất lý luận về đường lối đổi mới của Đảng là sự đổi mới nhận thức về bản chất, con đường, cách thức, biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới. Trong quá trình đổi mới, bản chất lý luận về đường lối đổi mới của Đảng không ngừng được bổ sung, phát triển sáng tạo qua từng kỳ đại hội, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và học hỏi kinh nghiệm quốc tế.

Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng được bắt nguồn từ những điều kiện khách quan và chủ quan của đất nước trong những năm 80 của thế kỷ XX. Trong Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1986), đồng chí Nguyễn Văn Linh thẳng thắn chỉ rõ: “Vui mừng trước những thành quả đó, chúng ta càng phải thấy rõ mặt trái của tình hình, nhất là về kinh tế - xã hội, sự trì trệ về sản xuất, sự rối ren về phân phối, lưu thông, những khó khăn trong đời sống nhân dân, những hiện tượng tiêu cực trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống, sự giảm sút niềm tin của nhân dân lao động. Đó là những điều mà Đảng ta cũng như nhân dân ta không thể chấp nhận được”1. Đồng chí khẳng định: “Chỉ có đổi mới thì mới thấy đúng và thấy hết sự thật, thấy những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa, nhằm vận dụng tốt chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh nước ta, phát huy truyền thống lịch sử và cách mạng của dân tộc, động viên tính năng động, sáng tạo và khả năng vô tận của nhân dân lao động làm chủ tập thể để đồng thời đẩy mạnh ba cuộc cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”2. Muốn vậy, “phải đấu tranh chống cái cũ, chống bảo thủ trì trệ, chống giáo điều rập khuôn, chống chủ quan nóng vội, chống tha hóa biến chất, chống những thói quen lỗi thời dai dẳng”3. Với nhận thức trên, Đại hội VI đã đánh dấu sự đổi mới của Đảng về tư duy, tổ chức và cán bộ. Đó không chỉ là đòi hỏi bức thiết của đất nước, đặc tính của cách mạng, mà còn là bản chất sâu xa của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Đại hội kiên định lập trường giữ vững bản chất cao quý, tự hào của Đảng, dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời không ngừng phát huy, phát triển sáng tạo để bản chất đó phong phú hơn, đẹp đẽ hơn.

Vào thập niên 70 - 80 của thế kỷ XX, mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực nảy sinh những khó khăn, bất cập. Đảng cộng sản và công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa đã tiến hành đổi mới, cải cách, mở cửa, cải tổ… Dù với nhiều tên gọi khác nhau, song đều có chung mục tiêu là đổi mới nhận thức và thực tiễn về xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ thành công Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên quê hương mình. Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không nằm ngoài mục tiêu trên, đó là nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trên cơ sở kế thừa những thành tựu đã đạt được, khắc phục, sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm trên tất cả các mặt, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Đây “là con đường vươn lên đáp ứng đòi hỏi của thời đại, đối phó thắng lợi với mọi thử thách, đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của nhân dân. Đối với nước ta, đổi mới đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Nhiều năm nay, trong nhận thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội có nhiều quan niệm lạc hậu, nhất là những quan niệm về công nghiệp hóa, về cải tạo xã hội chủ nghĩa, về cơ chế quản lý kinh tế, về phân phối, lưu thông, v.v.. Đó là một nguyên nhân chậm phát triển và cụ thể hóa đường lối chung và đường lối kinh tế trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ”4. Công cuộc cải tổ của Đảng Cộng sản Liên Xô là một bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam. Thực tiễn cho thấy, công cuộc cải tổ ở Liên Xô đã mắc phải một số sai lầm nghiêm trọng, đó là không nắm vững quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, dẫn đến đổi mới chính trị không có sự hậu thuẫn của kinh tế; với khẩu hiệu “ngôi nhà chung châu Âu”, “phái kinh tế” đã hạ thấp vai trò đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân, cho rằng đó chỉ là một hình thức của đấu tranh kinh tế; tuyệt đối hóa “công khai” dẫn tới dân chủ không đi đôi với kỷ cương, kỷ luật,… Đó là những nguyên nhân khiến công cuộc cải tổ ở Liên Xô thất bại.

Trước tình hình đó, Đảng ta chỉ rõ yêu cầu đổi mới về tư duy: “Đổi mới tư duy không có nghĩa là phủ nhận những thành tựu lý luận đã đạt được, phủ nhận những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ nhận đường lối đúng đắn đã được xác định, trái lại, chính là bổ sung và phát triển những thành tựu ấy”5; “Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho các mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp”6; “Đổi mới tư duy là nhằm khắc phục những quan niệm không phù hợp, làm phong phú những quan niệm về chủ nghĩa xã hội, phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, chứ không phải xa rời nó. Phải đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, thường xuyên quan tâm giáo dục, truyền bá thế giới quan Mác - Lênin và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa”7. Nhờ kiên định, giữ vững những nguyên tắc cơ bản này mà ngay từ đầu lý luận đổi mới của Đảng ta đã đi đúng quỹ đạo, không chệch hướng.

Từ những nhận định của Đảng và thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta cho thấy, bản chất lý luận về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam không phủ định những thành tựu về lý luận cũng như những thành tựu trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mà là làm cho nhận thức cũng như việc tổ chức thực hiện những nhiệm vụ này ngày càng đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn và mang lại hiệu quả cao.

Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta bao gồm đổi mới về nhận thức và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới nhận thức và thực tiễn bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Về lý luận, đường lối đổi mới không phủ nhận những thành tựu lý luận đã đạt được, khắc phục những quan điểm không phù hợp, làm phong phú những quan niệm về chủ nghĩa xã hội, phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Về thực tiễn, đường lối đổi mới không phủ nhận những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, không phủ nhận đường lối đúng đắn đã được xác định, mà đó là sự phát huy, phát triển những thành tựu để phù hợp với điều kiện mới.

Về đổi mới nhận thức và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm 1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991) với 6 đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội và 7 phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã bổ sung thành 8 đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội, chỉ ra 8 phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là 8 mối quan hệ lớn cần nhận thức, giải quyết trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đó là: “quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ;…”8. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (năm 2016), Đảng ta đã điều chỉnh mối quan hệ “giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa” thành mối quan hệ “giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa”, đồng thời bổ sung mối quan hệ “giữa Nhà nước và thị trường”9. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (năm 2021), trên cơ sở tổng kết 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 và 10 năm thực hiện Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ giữa thực hành dân chủ tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, hợp thành hệ thống mười mối quan hệ lớn có tính quy luật trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của Việt Nam.

Trong quá trình đổi mới, Đảng đã có nhận thức mới về thời kỳ quá độ: “Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen”10. Quan niệm này đã khắc phục tư tưởng chủ quan, nóng vội trước đổi mới về thời kỳ quá độ. Đồng thời, Đảng cũng nhận thức đầy đủ hơn về quá độ lên chủ nghĩa xã hội “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”. Trước đổi mới, Đảng ta nhận thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là sự “quá độ gián tiếp”, nghĩa là “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Nếu trong Cương  lĩnh năm 1991, Đảng ta sử dụng cụm từ “bỏ qua chế độ tư bản” và xác định: “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản, từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp”11, thì đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001), Đảng ta đã chỉ rõ: “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”12. Quan điểm này đánh dấu sự đổi mới quan trọng trong lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa của Đảng ta.

Cùng với đó, Đảng ta đã đổi mới nhận thức về kinh tế thị trường, coi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là công cụ, phương tiện quan trọng để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách; thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Đây chính là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Bên cạnh đó, Đảng ta cũng đưa ra quan điểm thể hiện sự đổi mới trong nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, coi Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là lựa chọn tối ưu để thực hiện quyền lực của nhân dân. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”13. Để làm rõ những nội dung cơ bản của chủ nghĩa xã hội, thể hiện sự phát triển sáng tạo về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng cũng có sự đổi mới nhận thức về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; về kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; về quốc phòng, an ninh, đối ngoại; về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhờ đó, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng rõ.

Về đổi mới nhận thức và thực tiễn bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa: Trước hết, Đảng ta chủ trương đổi mới nhận thức để xóa thế bao vây, cấm vận, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Trong tình hình quốc tế có nhiều biến động, khó lường, việc thêm bạn, bớt thù, tranh thủ được nguồn vốn, công nghệ, kỹ thuật của nước ngoài để phát triển kinh tế đất nước, tranh thủ sức mạnh thời đại để bảo vệ Tổ quốc là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Để thực hiện nhiệm vụ này, Đảng ta đã đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại, đề ra đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tháng 10/1993, Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB). Tháng 7/1995, Việt Nam gia nhập tổ chức ASEAN và ký kết Hiệp định khung về quan hệ hợp tác với Cộng đồng châu Âu (tiền thân của Liên minh châu Âu - EU); bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ, xóa bỏ thế bao vây, cấm vận. Tháng 11/1998, Việt Nam là thành viên chính thức của APEC. Tháng 11/2006, Việt Nam được kết nạp và trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)… Nhận thức rõ xu thế vận động, phát triển của thời đại, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001), Đảng ta đã đề ra đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (năm 2006), Đảng ta nhấn mạnh sự chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (năm 2011) cũng như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (năm 2016), Đảng ta đề ra phương hướng triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (năm 2021) đề ra Chiến lược xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước trong thời kỳ mới, trong đó có chủ trương, đường lối đối ngoại với tư tưởng chỉ đạo: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”14, thêm bạn, bớt thù, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Bên cạnh đó, trong quá trình lãnh đạo, nhận thức, tư duy của Đảng về quốc phòng, an ninh cũng không ngừng được phát triển, phù hợp với tình hình thực tiễn. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta đề ra nhiệm vụ bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh15. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) chú trọng củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân, nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố; giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm sự ổn định chính trị của đất nước; giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc những thành quả của cách mạng16. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) tiếp tục phát huy tinh thần của các kỳ Đại hội trước về xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân; đồng thời kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế; gắn nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh. Đặc biệt, tại Đại hội, lần đầu tiên Đảng ta xác định “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn quân, toàn dân”17; đồng thời, đề ra nhiệm vụ “xây dựng lực lượng quân đội và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”18. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001), Đảng có bước phát triển lý luận về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa khi lần đầu tiên cụ thể hóa nội dung bảo vệ Tổ quốc: “là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc”19. Tiếp tục tinh thần của Đại hội IX, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (năm 2006) mở rộng nội hàm của công tác bảo vệ an ninh bao gồm: bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng, an ninh văn hóa và an ninh xã hội; đồng thời nhấn mạnh cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý hoạt động quốc phòng, an ninh; chuẩn bị xây dựng Chiến lược quốc phòng, Chiến lược an ninh, phát triển các khu kinh tế - quốc phòng20. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (năm 2011) tiếp tục phát huy tinh thần của các kỳ đại hội trước, đồng thời bổ sung và nhấn mạnh nhiệm vụ “chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”21, “Xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang được trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại”22. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (năm 2016), Đảng ta đặc biệt chú trọng các vấn đề an ninh phi truyền thống; đồng thời nhấn mạnh việc kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại, tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh. Đặc biệt, Đại hội xác định quan điểm chủ động giữ nước trong thời bình, đó là: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát biện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”23. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII tiếp tục khẳng định và cụ thể hóa tinh thần của Đại hội XII: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”24. Qua đó cho thấy quyết tâm và chủ trương nhất quán của Đảng là kiên quyết và kiên trì bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Có thể khẳng định, trong suốt quá trình lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng và không ngừng nâng cao nhận thức lý luận, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đây là cơ sở quan trọng hàng đầu cho việc hoạch định các chủ trương, đường lối, tổ chức lực lượng, cũng như chỉ đạo hoạt động thực tiễn và thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Đây là vấn đề có tính quy luật, là điều kiện không thể thiếu đối với những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước hơn 35 năm qua không nằm ngoài quy luật đó, vì vậy, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta không ngừng được bổ sung, phát triển, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước và yêu cầu của thời đại. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới không tách rời những thành tựu của Đảng trong đổi mới nhận thức lý luận, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và quá trình bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa với tính chất, đặc điểm về kinh tế, chính trị, an ninh, đối ngoại, văn hóa, xã hội… trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.


1, 4, 5, 15. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 47, tr. 341, 459, 460, 550.

2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 47, tr. 342. 6, 7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 49, tr. 540.

8, 10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 72-73, 70.

9, 23. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 80, 149.

11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 51, tr. 133.

12, 13, 19. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 60, tr. 179, 150, 144.

14, 24. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 162, 156-157.

16. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1991, tr. 85-87.

17, 18. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 55, tr. 399.

20. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 108-111.

21, 22. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 69, tr. 511, 512.

GS, TS. TRẦN VĂN PHÒNG

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Chia sẻ:

Kiểm soát quyền lực gắn với phát huy vai trò của người đứng đầu 22/09/2022
CT&PT - Thực tiễn đời sống chính trị cho thấy, càng đi vào quá trình phát triển hiện đại hóa, quyền lực càng có nguy cơ bị lạm dụng, tha hóa, song, nhu cầu, quyết tâm, kỹ năng và năng lực kiểm soát quyền lực để quyền lực phục vụ cho mục tiêu phát triển xã hội bền vững cũng có xu hướng ngàng càng khả thi, hiệu quả hơn. Kiểm soát quyền lực nói chung và kiểm soát quyền lực của người đứng đầu nói riêng ở nước ta hiện nay đang là vấn đề được Đảng, Nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm ở cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Bài viết đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy “mục tiêu kép” kiểm soát quyền lực gắn với phát huy vai trò của người đứng đầu trong các cơ quan, tổ chức quyền lực ở Việt Nam hiện nay.
Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phù hợp với quy luật và thực tiễn 21/09/2022
CT&PT - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phản ánh tính phổ biến (quy luật) vì trong mọi nhà nước dân chủ đều thể hiện rõ vai trò chi phối của đảng chính trị trong hầu hết các hoạt động và tổ chức của nhà nước. Nó phản ánh điều kiện chính trị trong nước: Đảng Cộng sản Việt Nam có quá trình gắn bó máu thịt với nhân dân, với dân tộc qua cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vai trò lãnh đạo của Đảng được cả dân tộc thừa nhận và suy tôn.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, góp phần kiểm soát quyền lực và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước 12/09/2022
CT&PT - Cùng với các chức năng lập hiến, lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước thì giám sát tối cao của Quốc hội có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong cơ chế tổ chức, vận hành, thực thi và kiểm soát quyền lực của nhà nước. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang 76 năm qua, quán triệt sâu sắc Cương lĩnh, quan điểm, đường lối của Đảng, trước yêu cầu nhiệm vụ phát triển đất nước thời kỳ mới, Quốc hội tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, cách làm để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát tối cao.