Thứ sáu, 03/02/2023 13:12:51 (GTM +7)

Chính sách, pháp luật quản lý đất đai trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay

Đăng lúc: 09:44 03-02-2022 |  Lượt xem: 135

CT&PT - Qua mỗi giai đoạn, mỗi kỳ Đại hội, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về chính sách, pháp luật quản lý đất đai đã có sự bổ sung, hoàn thiện và phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội qua mỗi thời kỳ, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện và bền vững đất nước. Song, trước bối cảnh mới hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách, pháp luật quản lý đất đai cần có sự đổi mới và cải cách nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng và thực thi.

1. Chính sách, pháp luật quản lý đất đai trong quan điểm của Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ

Cùng với sự phát triển đất nước, hệ thống chính sách, pháp luật liên quan tới công tác quản lý đất đai cũng dần được hoàn thiện. Trước khi Luật Đất đai ra đời năm 1987, từ năm 1945 cho tới khi thống nhất đất nước năm 1975, đất đai ở miền Bắc và sau đó là trong cả nước đều do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và kế hoạch chung nhằm bảo đảm ruộng đất được sử dụng hợp lý, tiết kiệm, khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế theo hướng đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

Sau Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986), Luật Đất đai đã được Quốc hội thông qua lần đầu tiên ngày 29/12/1987. Luật Đất đai năm 1987 là văn bản luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ đất đai, làm thay đổi quan hệ đất đai theo chế độ tập thể hóa và quốc doanh hóa trước đây, giao đất ổn định lâu dài cho các hộ nông dân, cho các nông trường, lâm trường và cá nhân, khuyến khích kinh tế tư nhân trong lĩnh vực khai thác sử dụng đất, đồng thời khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Năm 1994, Tổng cục Quản lý ruộng đất và Cục Đo đạc và Bản đồ nhà nước được hợp nhất và tổ chức lại thành Tổng cục Địa chính theo Nghị định số 12/CP, ngày 22/02/1994 và Nghị định số 34/CP, ngày 23/4/1994 của Chính phủ. Sau khi Tổng cục Địa chính ra đời, các địa phương đã thành lập Sở Địa chính trực thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh. Tại cấp huyện là Phòng Địa chính trực thuộc UBND cấp huyện, tại cấp xã có cán bộ địa chính xã.

Đến năm 2002, theo định hướng thành lập các bộ quản lý đa ngành, Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập theo Nghị quyết số 02/2002/QH11 của Quốc hội khóa XI và Nghị định số 91/2002/NĐ-CP, ngày 11/11/2002 của Chính phủ. Ở địa phương thành lập Sở Tài nguyên và Môi trường trên cơ sở hợp nhất Sở Địa chính, các đơn vị quản lý nhà nước về tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ.

Để tăng cường quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường, năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tổng cục Quản lý đất đai được thành lập trong Bộ Tài nguyên và Môi trường nhằm tập trung các hoạt động quản lý nhà nước về đất đai ở cấp Trung ương về một đầu mối chuyên trách.

Sau khi Luật Đất đai năm 1987 ra đời, qua quá trình hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai theo từng thời kỳ phù hợp với quá trình đổi mới và phát triển đất nước, Luật Đất đai năm 1993, năm 2003 và 2013 đã được ban hành, cùng với các lần sửa đổi, bổ sung vào năm 1998, năm 2001. Đến nay, hệ thống chính sách, pháp luật về đất đai đã căn bản giải quyết được các vấn đề liên quan tới quản lý đất đai trong bối cảnh phát triển hiện tại của đất nước. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng đã có chuyển biến rõ rệt, bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người có đất thu hồi. Chính sách tài chính về đất đai, đổi mới về giá đất đã góp phần tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách, từng bước thực hiện quản lý nhà nước về đất đai bằng biện pháp kinh tế. Công tác cải cách thủ tục hành chính giúp giảm tối đa các thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. Công tác thanh tra, kiểm tra về quản lý, sử dụng đất đai được quy định cụ thể. Thị trường bất động sản nói chung và thị trường quyền sử dụng đất nói riêng đã từng bước đi vào nề nếp và ổn định, các đơn vị tư vấn định giá đất được hình thành và hoạt động ngày càng chuyên nghiệp, hỗ trợ cho thị trường bất động sản.

Trong xác định mục tiêu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (năm 2011) khẳng định, một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải phát triển các loại hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp, trong đó cần đặc biệt chú trọng “đổi mới, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về sở hữu đối với đất đai, tài nguyên, vốn và các loại tài sản công khác để tài nguyên, vốn và các tài sản công được được quản lý, sử dụng có hiệu quả. Khắc phục tình trạng thất thoát, lãng phí. Đất đai, tài nguyên, vốn, tài sản do Nhà nước đại diện chủ sở hữu được giao cho các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế sử dụng theo nguyên tắc hiệu quả. Các chủ thể có quyền và nghĩa vụ như nhau trong sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước…; nghiên cứu hình thành các tổ chức quản lý đầu tư, kinh doanh có hiệu quả các nguồn vốn, tài sản của Nhà nước; khắc phục tình trạng bộ máy quản lý hành chính tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh doanh thông qua mệnh lệnh hành chính”1.

Quyết định số 1892/QĐ-TTg, ngày 14/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ, về phê duyệt Đề án nâng cao năng lực quản lý nhà nước ngành quản lý đất đai giai đoạn 2011-2020  đề ra nhiệm vụ cụ thể: “Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai thông qua việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai; đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận; xây dựng hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai; thực hiện cải cách hành chính trong lĩnh vực đất đai; kiện toàn hệ thống tổ chức ngành quản lý đất đai theo hướng quản lý thống nhất, đủ năng lực thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước và các dịch vụ công về đất đai; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành quản lý đất đai”.

Để khắc phục những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý đất đai, phát huy nguồn lực đất đai, từ đó thúc đẩy sự phát triển đất nước, ngày 31/10/2012, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nghị quyết khẳng định, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, Nhà nước thống nhất quản lý, quyền sử dụng đất là một loại tài sản, là hàng hóa đặc biệt, nhưng không phải là quyền sở hữu; xác định rõ hơn quyền và trách  nhiệm của người sử dụng đất, cùng với nhiều vấn đề quan trọng khác. Đây là cơ sở quan trọng để hoàn thiện Luật Đất đai năm 2013. Theo đó, các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, các bộ, ngành về thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, xác định các nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính, nghiên cứu và từng bước triển khai thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực đất đai; tiếp tục kiện toàn hệ thống bộ máy quản lý đất đai; tăng cường quản lý và phát triển thị trường bất động sản với ưu tiên hoàn thành việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tạo điều kiện để đất đai tham gia vào thị trường bất động sản. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai làm cơ sở cho việc ứng dụng công nghệ thông tin quản lý các nguồn lực phát triển đất nước.

Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Điều 53 và Điều 54 Hiến pháp năm 2013 quy định đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Quy định này được Luật Đất đai năm 2013 đề cập cụ thể như sau: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này. Mục II, Chương 3 Luật Đất đai năm 2013 đã bổ sung quy định về hoạt động điều tra, đánh giá đất đai, bao gồm cả điều tra số lượng và điều tra chất lượng đất đai. Để từng bước xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện đại, tạo điều kiện để công khai, minh bạch hóa công tác quản lý, sử dụng đất, Luật Đất đai năm 2013 đã dành Chương IX quy định về hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai. Hệ thống thông tin đất đai được thiết kế tổng thể và xây dựng thành một hệ thống thống nhất trên phạm vi cả nước, phục vụ đa mục tiêu với thành phần cơ bản là hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin đất đai, hệ thống phần mềm hệ điều hành, phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng, cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia. Cơ sở dữ liệu đất đai là tài sản của Nhà nước, được bảo đảm an ninh, an toàn chặt chẽ; tổ chức, cá nhân có quyền khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu đất đai theo quy định của pháp luật và phải nộp phí.

Luật Đất đai cũng bước đầu hình thành khung pháp lý để thực hiện các dịch vụ công điện tử trong lĩnh vực đất đai. Thực hiện Luật Đất đai năm 2013, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành quy định kỹ thuật, quy trình, định mức kinh tế - kỹ thuật xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai. Bộ đã xây dựng và trình Chính phủ dự thảo các nghị định quy định về xây dựng, quản lý và khai thác, sử dụng hệ thống thông tin đất đai; giao dịch điện tử trong lĩnh vực đất đai. Về định hướng củng cố, hoàn thiện tổ chức, cơ chế hoạt động của Văn phòng đăng ký đất đai và Trung tâm phát triển quỹ đất, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật đã quy định theo hướng kiện toàn các tổ chức này theo mô hình một cấp trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường với chức năng, nhiệm vụ phù hợp để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của việc cung cấp dịch vụ công.

Kế thừa quan điểm, chỉ đạo của Đảng về vấn đề sử dụng, quản lý đất đai qua các thời kỳ, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (năm 2016) nhấn mạnh: “Nâng cao trách nhiệm, hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội… Đổi mới công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; xây dựng cơ sở dữ liệu về đất đai; thúc đẩy sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả; kết hợp bảo vệ diện tích, độ phì nhiêu của đất canh tác nông nghiệp”2. “Nâng cao chất lượng xây dựng quy hoạch, kế hoạch và quản lý chặt chẽ việc sử dụng đất”3.

Sau gần 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW và thực hiện các chủ trương, chỉ đạo của Đảng về vấn đề sử dụng và quản lý đất đai trong các văn bản, văn kiện, chúng ta đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định xã hội, an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường... Hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai từng bước được tăng cường; chính sách, pháp luật về đất đai ngày càng được hoàn thiện; các quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm; thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất đã được hình thành và phát triển nhanh. Kết quả đó khẳng định các quan điểm chỉ đạo, định hướng chính sách, pháp luật về đất đai được xác định trong Nghị quyết cơ bản là đúng đắn, phù hợp với đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về đất đai còn nhiều hạn chế, nhất là trong quy hoạch sử dụng đất, định giá đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư, các thủ tục hành chính về đất đai. Lợi ích của Nhà nước và người dân có đất bị thu hồi chưa được bảo đảm tương xứng; nguồn lực về đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; việc sử dụng đất nhiều nơi còn lãng phí, hiệu quả thấp; tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực này còn lớn; thị trường bất động sản phát triển không ổn định, thiếu lành mạnh, giao dịch “ngầm” còn khá phổ biến; tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn diễn biến phức tạp.

Để khắc phục những hạn chế, tồn tại trên, kế thừa và phát triển một cách sáng tạo các chủ trương, chính sách quản lý tài nguyên đất của các Đại hội trước, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (năm 2016)  đã đề ra những nhiệm vụ trọng tâm nhằm tạo tiền đề cho các nhiệm kỳ tiếp theo để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó có nhiệm vụ thứ sáu: “quản lý chặt chẽ, sử dụng hợp lý, hiệu quả đất đai, tài nguyên”4.

Có thể thấy, qua mỗi giai đoạn, mỗi kỳ Đại hội, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về chính sách, pháp luật quản lý đất đai đã có sự bổ sung, hoàn thiện và phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội qua mỗi thời kỳ, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện và bền vững đất nước. Song, trước bối cảnh mới hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách, pháp luật quản lý đất đai cần có sự đổi mới và cải cách nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng và thực thi.

2. Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách, pháp luật quản lý đất đai trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay

Một là, về quy hoạch sử dụng đất: Tăng cường kiểm tra, giám sát thống nhất từ Trung ương đến địa phương trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy hoạch sử dụng đất. Đổi mới, nâng cao tính liên kết, đồng bộ giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng, quy hoạch ngành, lĩnh vực khác có sử dụng đất theo hướng quy hoạch sử dụng đất phải tổng hợp, cân đối, phân bổ hợp lý, sử dụng hiệu quả đất đai cho các ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ và đơn vị hành chính. Quy hoạch xây dựng và quy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất phải phù hợp với các chỉ tiêu, tiến độ sử dụng đất được phân bổ trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Có cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư xây dựng hạ tầng, phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch đồng bộ với cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội để khai thác tiềm năng đất đai tại các vùng trung du, miền núi, ven biển, hạn chế tối đa việc sử dụng đất chuyên trồng lúa. Từng bước thực hiện di dời các cơ sở sản xuất, các đơn vị sự nghiệp tập trung đông người ra khỏi trung tâm thành phố, nhất là các thành phố lớn, để khai thác, sử dụng đất có hiệu quả theo quy định, hạn chế ô nhiễm môi trường, giảm ùn tắc giao thông.

Về chính sách giao đất, cho thuê đất: Thu hẹp các đối tượng được giao đất và mở rộng đối tượng được thuê đất. Việc giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế, xã hội được thực hiện chủ yếu thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất.

Tiếp tục giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng có thời hạn theo hướng kéo dài hơn quy định hiện hành để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đất và yên tâm đầu tư sản xuất. Sớm có giải pháp đáp ứng nhu cầu đất sản xuất và việc làm cho bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số đang không có đất sản xuất.

Tập trung rà soát, xử lý dứt điểm những trường hợp đất đã giao cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức đoàn thể nhưng không sử dụng hoặc sử dụng sai mục đích, trái pháp luật. Đồng thời, có chế tài đồng bộ, cụ thể để xử lý nghiêm, dứt điểm các trường hợp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhưng sử dụng lãng phí, không đúng mục đích, đầu cơ đất, chậm đưa đất vào sử dụng; không bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất, giá trị đã đầu tư vào đất đối với các trường hợp bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai.

Cần quy định cụ thể điều kiện để nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất khi sắp xếp lại trụ sở, cơ sở làm việc thuộc sở hữu nhà nước để chuyển sang mục đích phát triển kinh tế.

Ba là, về vấn đề thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư: Quy định rõ ràng và cụ thể hơn các trường hợp Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Đối với các dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng được chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất với nhà đầu tư để thực hiện dự án. Nhà nước chủ động thu hồi đất theo kế hoạch sử dụng đất hằng năm đã được xét duyệt.

Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, công khai, khách quan, công bằng và đúng quy định của pháp luật. Người sử dụng đất được bồi thường theo mục đích đất đang sử dụng hợp pháp. Nghiên cứu phương thức chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ để bảo đảm ổn định đời sống lâu dài cho người có đất bị thu hồi.

Bốn là, về đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận: Thực hiện đăng ký bắt buộc về quyền sử dụng đất. Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đã đăng ký đất đai theo quy định của pháp luật, đồng thời có chế tài đủ mạnh để ngăn chặn các trường hợp giao dịch không đăng ký tại cơ quan nhà nước.

Tăng cường đầu tư nguồn lực để đo đạc, lập bản đồ, hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu, đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đáp ứng nhu cầu của người sử dụng đất.

Năm là, quy định cụ thể điều kiện thực hiện các quyền của người sử dụng đất, điều kiện nhà đầu tư được nhận quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư. Khuyến khích việc cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư.

Sáu là, đẩy mạnh phát triển thị trường bất động sản: Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển lành mạnh, bền vững thị trường bất động sản. Việc phát triển đô thị, các dự án kinh doanh bất động sản phải phù hợp với quy hoạch, nhu cầu của thị trường. Đẩy mạnh phát triển nhà ở, đặc biệt là nhà ở xã hội để từng bước cải thiện điều kiện nhà ở của nhân dân.

Tăng cường sự quản lý, điều tiết của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, chủ động điều tiết thị trường bằng quan hệ cung - cầu, đồng thời điều tiết thị trường bất động sản thông qua việc đổi mới chính sách tài chính về đất đai, nhất là chính sách thuế; rà soát lại các điều kiện lựa chọn nhà đầu tư, bảo đảm nhà đầu tư phải có đủ năng lực thực hiện các dự án bất động sản.

Bảy là, chính sách tài chính về đất đai: Xây dựng cơ chế tăng cường, đa dạng hóa các nguồn vốn cho quỹ phát triển đất, trong đó có việc trích từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nhằm tạo quỹ đất, tạo quỹ nhà tái định cư, quỹ nhà ở xã hội.

Rà soát các chính sách ưu đãi về thuế, bảo đảm công bằng, thống nhất, đơn giản, thuận tiện, chống thất thu thuế. Có chính sách, mức thu hợp lý để nuôi dưỡng nguồn thu, khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả. Nhà nước thực hiện chính sách thuế lũy tiến đối với các dự án đầu tư chậm hoặc bỏ hoang không đưa đất vào sử dụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.

Nghiên cứu ban hành thuế bất động sản (đối tượng chịu thuế phải bao gồm cả đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất). Thực hiện nghiêm Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân, trong đó có thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, không thực hiện việc thu thuế theo mức khoán.

Bên cạnh đó, cần làm tốt công tác theo dõi, cập nhật biến động giá đất trên thị trường. Có cơ chế giám sát các cơ quan chức năng và tổ chức định giá đất độc lập trong việc định giá đất.

Tám là, đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực đất đai: Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, ngành, địa phương trong quản lý nhà nước về đất đai, bảo đảm quản lý thống nhất, hiệu lực, hiệu quả và không chồng chéo, đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và điều kiện cụ thể theo từng giai đoạn.

Rà soát, sửa đổi thẩm quyền thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hướng vừa bảo đảm quyền quản lý thống nhất của Trung ương, vừa phát huy quyền chủ động của địa phương. Điều chỉnh thẩm quyền của cấp tỉnh, cấp huyện cho phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính. Tăng cường giám sát đội ngũ cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ trong quản lý đất đai; xử lý nghiêm các trường hợp nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp.

Chín là, tăng cường công tác thanh tra, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai: Các cơ quan có thẩm quyền phải tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai theo đúng quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, tố tụng hành chính, tố tụng dân sự; công bố công khai kết quả giải quyết.

Củng cố, kiện toàn hệ thống thanh tra đất đai, tòa án các cấp; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ xét xử đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Quan tâm đào tạo, nâng cao trình độ cho đội ngũ thanh tra viên, cán bộ xét xử, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai. Rà soát, sửa đổi, bổ sung chế tài xử lý đủ mạnh đối với các trường hợp vi phạm.

Mười là, tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực cán bộ, công chức trong ngành quản lý đất đai: Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai.

Tiếp tục củng cố, hoàn thiện tổ chức, cơ chế hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất theo mô hình dịch vụ công, tập trung một cấp tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và có các chi nhánh đặt tại các quận, huyện, khu vực đông dân cư để tạo thuận lợi cho người dân; trước mắt thực hiện đối với khu vực đô thị.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường năng lực của Tổ chức phát triển quỹ đất, từng bước chuyển Tổ chức phát triển quỹ đất sang mô hình doanh nghiệp phát triển quỹ đất; phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ về đất đai.

Có thể khẳng định, thực hiện thắng lợi phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2021-2025 là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị nước ta, trong đó, thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm về quản lý, sử dụng, khai thác chặt chẽ, hiệu quả nguồn lực đất đai sẽ góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Muốn vậy, yêu cầu cấp bách trước nhất là phải tăng cường xây dựng, bổ sung, cải cách và hoàn thiện những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý đất đai, đặc biệt là quan điểm, chỉ đạo của Đại hội XIII. Đó chính là căn cứ, cơ sở quan trọng để các cơ quan, các cấp có thẩm quyền nhanh chóng triển khai, áp dụng vào thực tiễn, góp phần khai thác hiệu quả giá trị tài nguyên đất - tài nguyên quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.


1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 207.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 142-143.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 305.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 52.

ThS. PHẠM THỊ HƯƠNG

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật

Chia sẻ:

Thực trạng các mô hình du lịch cộng đồng đang hoạt động tại tỉnh Lâm Đồng 17/12/2022
CT&PT - Lâm Đồng là một tỉnh miền núi phía Nam Tây nguyên, là địa bàn sinh sống của các cộng đồng dân tộc thiểu số như Churu, Mạ, Cơ ho, M’Nông… Do đó, Lâm Đồng có nhiều lễ hội văn hóa, làng nghề truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc bản địa. Thời gian vừa qua, loại hình du lịch dựa vào cộng đồng ở Lâm Đồng - với phương châm 3 cùng “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” bước đầu xuất hiện và trở thành sự lựa chọn mới của nhiều du khách. Loại hình du lịch cộng đồng mang lại cho du khách những trải nghiệm nhiều hơn về cuộc sống của người dân tộc bản địa tại Lâm Đồng. Ngoài ra, với loại hình du lịch này, chính người dân bản địa tại Lâm Đồng được tham gia trực tiếp vào các hoạt động du lịch, quảng bá phong tục tập quán của dân tộc mình và thu được các lợi ích kinh tế - xã hội từ các hoạt động du lịch, đồng thời chịu trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và văn hóa địa phương.
Một số bất cập, hạn chế trong pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam hiện nay 01/12/2022
CT&PT - Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và các bước thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư luôn là những vấn đề nhạy cảm và mang tính thời sự, thu hút sự quan tâm của Nhà nước và toàn xã hội. Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích, xác định nguyên nhân cụ thể, làm rõ thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, bài viết rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp quan trọng, góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong giai đoạn hiện nay.
Thống nhất nhận thức về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên hiện nay 14/10/2022
CT&PT - Đảng ta là “Đảng khoa học và cách mạng”, “Đảng cầm quyền”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Đảng là đạo đức, là văn minh”, người cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng; đạo đức cách mạng là “gốc” của người cách mạng, của người cán bộ, đảng viên. Người cũng chỉ rõ, đạo đức cách mạng là thay đi cái cũ, chế độ cũ xấu xa, xây nên cái mới, chế độ mới tốt đẹp hơn, phù hợp hơn, vì thế cán bộ, đảng viên càng cần phải có đạo đức cách mạng.