Chủ nhật, 25/09/2022 01:48:56 (GTM +7)

Đồng chí Lê Văn Lương và bài học kinh nghiệm về công tác tự phê bình và phê bình trong Đảng

Đăng lúc: 08:38 28-03-2022 |  Lượt xem: 267

CT&PT - Đồng chí Lê Văn Lương là một trong những chiến sĩ cộng sản đầu tiên của Đảng, người học trò mẫu mực của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trải qua gần 70 năm hoạt động cách mạng, từng giữ nhiều trọng trách quan trọng trong Đảng, đồng chí Lê Văn Lương đã có những đóng góp quan trọng trong công tác tự phê bình và phê bình, góp phần củng cố, phát triển Đảng. Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, những bài học kinh nghiệm của đồng chí Lê Văn Lương về tự phê bình và phê bình vẫn vẹn nguyên giá trị, là hành trang lý luận - thực tiễn cho mỗi cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức, tổ chức thực hiện, khắc phục sai lầm, sửa chữa khuyết điểm, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, để Đảng thật sự xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”, “đại diện lương tri, danh dự, trí tuệ của dân tộc và thời đại”.

1. Đồng chí Lê Văn Lương với công tác tự phê bình và phê bình

Đồng chí Lê Văn Lương tên thật là Nguyễn Công Miều, sinh ngày 28/3/1912, trong một gia đình có truyền thống Nho học tại thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Tham gia cách mạng từ sớm và sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí trở thành một trong những lãnh đạo chủ chốt của Đảng. Tháng 12/1946, đồng chí được cử làm Bí thư Văn phòng Thường vụ Trung ương Đảng. Năm 1947, để chuẩn bị phát động cuộc vận động tự phê bình và phê bình trong Đảng, đồng chí đã tiến hành khảo sát tình hình phát triển đảng viên. Trước thực trạng đội ngũ đảng viên tuy tăng nhanh về số lượng nhưng trình độ giác ngộ, ý thức trong Đảng còn hạn chế; công tác tự phê bình và phê bình đã triển khai nhưng chưa hiệu quả, đồng chí đã tham mưu cho Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở cuộc vận động tự phê bình và phê bình trong tất cả các chi bộ, tiến hành xem xét quá trình công tác, quá trình rèn luyện tính đảng, nâng cao trình độ chính trị của đảng viên và chấn chỉnh tổ chức cơ sở đảng. Đồng chí nhấn mạnh, trong khi tiến hành cuộc vận động, cần chú trọng việc giải thích sâu rộng trong toàn thể chi bộ về ý nghĩa cuộc vận động, quy định những vấn đề chính cần kiểm thảo, phải có sự giáo dục và thưởng, phạt nghiêm minh, có báo cáo tổng kết kinh nghiệm theo thời hạn nhất định. Sự phê bình và tự phê bình không dừng lại ở mỗi đảng viên, trong từng chi bộ mà còn mở rộng ra giữa các cấp ủy đảng. Năm 1950, đồng chí Lê Văn Lương tiếp tục tham mưu cho Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 28-CT/TW về việc tạm ngừng kết nạp đảng viên mới trên phạm vi toàn quốc để tập trung nâng cao chất lượng đảng viên, củng cố tổ chức đảng. Đồng chí chỉ rõ, trong khi tạm ngừng kết nạp đảng viên mới, các cấp ủy đảng phải hết sức chú trọng công tác chấn chỉnh Đảng thông qua việc bằng cách tích cực thực hiện hai cuộc vận động “đào tạo cán bộ, học tập lý luận” và “tự phê bình và phê bình” mà Trung ương đề ra.

Tháng 02/1951, tại Đại hội II của Đảng, đồng chí Lê Văn Lương được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, sau đó là Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương. Trên cương vị người đứng đầu Ban Tổ chức Trung ương, đồng chí đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng nền móng, từng bước kiện toàn cơ cấu bộ máy, đào tạo đội ngũ cán bộ. Năm 1952, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang trên đà phát triển mạnh mẽ, do âm mưu kéo dài chiến tranh của thực dân Pháp và sự can thiệp ngày càng sâu của đế quốc Mỹ, cuộc kháng chiến diễn ra ngày càng ác liệt. Trong hoàn cảnh đó, một bộ phận cán bộ, đảng viên xuất hiện tư tưởng chủ quan, muốn đánh nhanh, thắng nhanh hoặc nản chí, trông chờ vào sự giúp đỡ từ bên ngoài. Đồng chí Lê Văn Lương đã tham mưu cho Trung ương tổ chức chỉnh huấn trong toàn Đảng, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng thời kỳ này. Một trong những nội dung quan trọng của cuộc vận động chỉnh đốn Đảng là chấn chỉnh đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm cho cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức trách nhiệm, chấp hành nghiêm chỉnh mọi nghị quyết của Đảng, Chính phủ, thật thà tự phê bình và phê bình một cách đúng đắn. Thay mặt Ban Bí thư, đồng chí Lê Văn Lương đã ký nhiều chỉ thị, nghị quyết về công tác củng cố nội bộ, về cuộc vận động chỉnh đốn Đảng…, trong đó nêu rõ công tác tự phê bình và phê bình của mỗi đảng viên và chi bộ chính là điều kiện, nền tảng vững chắc cho sự thành công của cuộc vận động chỉnh đốn Đảng.

Tháng 9/1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí Lê Văn Lương tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tham gia điều hành công việc hằng ngày của Ban Bí thư, cùng với Bí thư thứ nhất là đồng chí Lê Duẩn. Đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, công tác xây dựng Đảng được Ban Bí thư đặc biệt quan tâm, nhất là công tác bảo vệ chính trị nội bộ, giáo dục cán bộ, đảng viên. Tháng 5/1969, thay mặt Ban Bí thư Trung ương Đảng, đồng chí Lê Văn Lương ký Chỉ thị số 171-CT/TW về đợt sinh hoạt chính trị nội bộ, tiến hành một đợt tự phê bình và phê bình về phẩm chất, đạo đức cách mạng, nhằm nâng cao ý chí chiến đấu, tinh thần cách mạng, lề lối lãnh đạo của các cấp ủy, chống lối làm việc cá nhân, độc đoán, cục bộ; giữ vững lối sống cần cù, giản dị, trong sạch của mỗi cán bộ, đảng viên. Tháng 02/1972, đồng chí ký Chỉ thị số 196-CT/TW về tăng cường chỉ đạo cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên ở các cơ quan Trung ương, trong đó nhấn mạnh, cần đẩy mạnh, nâng cao chất lượng thực hiện tự phê bình và phê bình, tập trung phê bình những quan điểm sai trái, khuyết điểm của đảng viên, mối quan hệ giữa cơ quan Trung ương và các địa phương, phê bình nghiêm khắc những hiện tượng tiêu cực, mất đoàn kết nội bộ. Kết quả đạt được của các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn này đã góp phần to lớn vào thành công của công tác xây dựng Đảng, cũng như thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (năm 1976) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (năm 1982), đồng chí Lê Văn Lương tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, là Bí thư Thành ủy Hà Nội. Trong thời kỳ xây dựng, phát triển kinh tế, cuộc đấu tranh chống tiêu cực trong Đảng càng trở nên cam go, quyết liệt. Trên cương vị là Bí thư Thành ủy Hà Nội, đồng chí thường xuyên quan tâm, yêu cầu các cấp ủy đảng và mỗi đảng viên của Thủ đô chú trọng công tác tự phê bình và phê bình, coi đó là nguyên tắc hàng đầu, là công việc hằng ngày để xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Năm 1986, do điều kiện sức khỏe và tuổi tác, đồng chí Lê Văn Lương về hưu, song đồng chí vẫn được Bộ Chính trị tin tưởng phân công tham gia tổng kết công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ. “Đồng chí đã làm nhiệm vụ ấy với tinh thần trách nhiệm cao, thường xuyên theo dõi tình hình của đất nước, tình hình của nội bộ Đảng và có những đề nghị trung thực, thẳng thắn với Bộ Chính trị không ngoài mục đích tăng cường sức mạnh lãnh đạo và tăng cường tinh thần đoàn kết trong Đảng”1.

Không chỉ gương mẫu trong công tác chỉ đạo, đồng chí Lê Văn Lương còn là tấm gương sáng về tinh thần tự phê bình và phê bình. Khi phát hiện sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, đồng chí Lê Văn Lương trực tiếp xuống cơ sở tìm hiểu tình hình, xác minh sai lầm, kịp thời báo cáo với Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, giúp Trung ương Đảng đề ra những biện pháp quan trọng nhằm khắc phục sai lầm. Bản báo cáo do đồng chí chuẩn bị trình Hội nghị Trung ương 10 (khóa II) vào tháng 9/1956 đã nêu cao tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng thực chất, chỉ rõ những sai lầm, nguyên nhân và khuyết điểm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Hội nghị nhất trí với những vấn đề mà đồng chí Lê Văn Lương đề xuất như: thả ngay những người bị bắt oan, minh oan cho những người bị xử lý oan, khôi phục đảng tịch cho đảng viên bị oan… Từ đó, công tác sửa sai của Đảng được tiến hành khẩn trương và mang lại kết quả tích cực.

Tuy không có những bài viết riêng về tự phê bình và phê bình trong Đảng, nhưng trong nhiều bài viết về công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ, đồng chí Lê Văn Lương đều đề cập vấn đề tự phê bình và phê bình, coi đó là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong xây dựng, phát triển Đảng. Qua các bài viết và bằng chỉ đạo thực tiễn, đồng chí Lê Văn Lương đã góp phần to lớn vào công tác tự phê bình và phê bình trong Đảng. Quan điểm của đồng chí về công tác tự phê bình và phê bình trong Đảng thể hiện ở một số điểm chính sau:

Một là, tự phê bình và phê bình phải trở thành công việc hằng ngày, là ý thức tự giác của mỗi đảng viên, phải đưa vào sinh hoạt thường xuyên của tổ chức đảng, thông qua các đợt kiểm điểm công tác và sinh hoạt chính trị định kỳ. Phải gắn việc tự phê bình và phê bình với những biện pháp về tổ chức, với các phong trào đấu tranh quần chúng.

Hai là, tự phê bình và phê bình trong Đảng là nguyên tắc hoạt động, là vũ khí sắc bén của Đảng. “Điều then chốt để mở rộng dân chủ và nâng cao sự lãnh đạo tập thể trong Đảng là đẩy mạnh tự phê bình và phê bình. Chúng ta cần thực hành và khuyến khích việc phê bình và tự phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên”2, đồng thời khuyến khích nhân dân phê bình và giám sát cán bộ, đảng viên. Cần tránh tình trạng: “ít chú ý khơi gợi ý kiến của cấp dưới; một số cán bộ và đảng viên cấp dưới thường rụt rè, e ngại, không thẳng thắn vì quyền lợi chung của Đảng phát biểu ý kiến và báo cáo kinh nghiệm của mình với cấp trên. Có nơi lại gây dư luận, thầm thì bàn tán, phê bình vô trách nhiệm”3.

Ba là, phê bình nhiều mặt, trước hết là đạo đức cách mạng, bởi đạo đức là gốc của mỗi con người, việc giữ gìn và nâng cao phẩm chất cách mạng của cán bộ, đảng viên là vấn đề cơ bản của một đảng cách mạng “phải gánh vác nhiều nhiệm vụ rất nặng nề, cán bộ, đảng viên được giao phó nhiều cương vị rất trọng yếu trong bộ máy nhà nước và các đoàn thể quần chúng”4. Trong cuộc vận động tự phê bình và phê bình, “mỗi đảng viên trước hết phải kiểm thảo lại ý thức phụng sự Đảng, phụng sự nhân dân của mình. Mỗi đảng viên cần tự hỏi: từ ngày giác ngộ Đảng, mình đã làm được những gì, có lợi hay có hại cho Đảng và cho nhân dân ra sao…? Yêu cầu quần chúng xung quanh nhận xét mình về mặt ấy. Phải hết sức nghiêm khắc với mình, dù thấy những khuyết điểm nhỏ, cũng không nên coi thường, mà trái lại, phải quyết tâm sửa chữa”5. Đối với các cấp ủy đảng, không nên chỉ dừng lại ở việc tự phê bình và phê bình trong công việc nội bộ, mà phải trong cả mối quan hệ với quần chúng, với cấp ủy các cấp.

Bốn là, phương pháp phê bình: cùng với việc khơi gợi tinh thần tự giác của mỗi người, cần có sự giúp đỡ của tập thể. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, cần “bình tĩnh xem lại công việc, thành thật tự phê bình, sửa chữa sai lầm để tiếp tục tiến lên”6. Trước khi tự phê bình và phê bình trong nội bộ, cần dựa vào các đoàn thể, cơ quan để thu thập ý kiến phê bình, nhận xét của quần chúng. Khi phê bình, phải nêu rõ ưu điểm và khuyết điểm, việc tốt và việc chưa tốt. Phê bình trên cơ sở lắng nghe, tìm hiểu cụ thể, trực tiếp và trên hết là tâm trong sáng. Sau khi nêu hiện tượng cần xác định nguyên nhân, từ đó có biện pháp thiết thực nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế.

Năm là, kết quả của tự phê bình và phê bình không chỉ dừng lại ở việc khen thưởng hay xử phạt đối với đảng viên, các cấp ủy, mà còn giúp các cấp ủy, đảng viên nhận thức sâu sắc hơn trách nhiệm của bản thân, rèn luyện ý thức chính trị, “tạo được nền dân chủ rộng rãi và trên cơ sở đó mà nâng cao sự tập trung về mặt lãnh đạo”7, trực tiếp góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng.

2. Bài học kinh nghiệm về công tác tự phê bình và phê bình trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

Nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của công tác tự phê bình và phê bình đối với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, các văn kiện đại hội và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa đều nhấn mạnh việc thực hiện tự phê bình và phê bình, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, gần đây nhất là Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Trên thực tế, công tác tự phê bình và phê bình đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, “Các cấp ủy, tổ chức đảng đã dành thời gian thỏa đáng để kiểm điểm ở cấp mình, trực tiếp dự, chỉ đạo, gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân thuộc quyền quản lý; coi trọng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình”8. Tuy nhiên, công tác tự phê bình và phê bình hiện nay còn nhiều bất cập, hạn chế, “không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao”9. Từ quan điểm, thực tiễn hoạt động và tấm gương mẫu mực về tự phê bình và phê bình của đồng chí Lê Văn Lương trong những thời kỳ đầy cam go, thử thách của cách mạng, có thể đúc kết những bài học kinh nghiệm về công tác tự phê bình và phê bình trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay như sau:

Một là, thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức và duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình cho cán bộ, đảng viên. Các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần chủ động xây dựng kế hoạch, duy trì, thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình để đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên. Qua đó, ngăn ngừa, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong từng cán bộ, đảng viên.

Hai là, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tự phê bình và phê bình, bám sát định hướng của Đảng, nhiệm vụ chính trị trọng tâm, những vấn đề nổi cộm, bức xúc, những hạn chế, yếu kém trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng; trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để làm trong sạch nội bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, coi đó “là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất”. Đối với mỗi đảng viên, nội dung kiểm điểm phải cụ thể về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, thực hiện quy định những điều đảng viên không được làm.

“Cấp ủy cấp trên chủ động gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân ở những nơi có vấn đề phức tạp, có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; coi trọng kiểm tra việc khắc phục hạn chế, khuyết điểm”10. Bên cạnh đó, cần xây dựng, ban hành quy định cụ thể để cấp dưới phê bình cấp trên; cán bộ, đảng viên phê bình cán bộ lãnh đạo, quản lý; khuyến khích người dám phê bình, xử lý nghiêm minh những cán bộ có thái độ và hành động tư thù cá nhân đối với người góp ý, phê bình thẳng thắn. Đồng thời, có quy định về thời gian, biện pháp khắc phục khuyết điểm, coi đó là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Ba là, đẩy mạnh thực hiện nêu gương, trước hết là đối với cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong công tác tự phê bình và phê bình. Hiện nay, Đảng có nhiều chỉ thị, quy định về nêu gương và thực hiện trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, “chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”. Việc nêu gương, chịu trách nhiệm trở thành quy định bắt buộc đối với mỗi cán bộ, đảng viên. Từ đó, khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu của Đảng; nhanh chóng khắc phục những sai lầm, khuyết điểm, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy phong trào cách mạng tiến lên.

Bốn là, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm sau khi tiến hành tự phê bình và phê bình. Hiện nay, sự biến đổi đa dạng, nhanh chóng của thực tiễn đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng phải có biện pháp cụ thể, sát thực để khắc phục, sửa chữa khuyết điểm; kết hợp giữa “xây” và “chống”, nói đi đôi với làm, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm trong công tác xây dựng Đảng. Đối với trường hợp đảng viên vi phạm đến mức phải kỷ luật thì không khoan nhượng, không chậm trễ, thực hiện xử lý kỷ luật theo quy định mà Đảng đã đề ra. Tuy nhiên, việc xử lý kỷ luật cán bộ phải thấu tình đạt lý, góp phần loại bỏ cái xấu, bảo vệ cái tốt, cái tích cực trong mỗi con người, đồng thời xem xét trách nhiệm của cá nhân, tổ chức liên quan.

Như vậy, để phát huy hiệu quả của tự phê bình và phê bình, cần sử dụng đồng bộ nhiều giải pháp, cách thức, từ nâng cao nhận thức, tổ chức thực hiện đến khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, nhằm mục đích cao nhất là xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng, để Đảng thật sự “là đạo đức, là văn minh”, là “đại diện lương tri, danh dự, trí tuệ của dân tộc và thời đại” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.

PGS, TS. NGUYỄN XUÂN TRUNG

Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

TS. LÊ THỊ HẰNG

Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


1, 3, 5, 6. Lê Văn Lương - Trọn đời vì sự nghiệp của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 81, 63, 54, 71.

2, 7. Lê Văn Lương: “Tăng cường chế độ tập trung dân chủ trong Đảng ta” in trong cuốn Thấu suốt nguyên tắc tổ chức của Đảng, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1962, tr. 51.

4. Đảng, Bác Hồ về tự phê bình và phê bình, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 310-311.

8, 9, 10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 175-176, 179, 236-237.

Chia sẻ:

Kiểm soát quyền lực gắn với phát huy vai trò của người đứng đầu 22/09/2022
CT&PT - Thực tiễn đời sống chính trị cho thấy, càng đi vào quá trình phát triển hiện đại hóa, quyền lực càng có nguy cơ bị lạm dụng, tha hóa, song, nhu cầu, quyết tâm, kỹ năng và năng lực kiểm soát quyền lực để quyền lực phục vụ cho mục tiêu phát triển xã hội bền vững cũng có xu hướng ngàng càng khả thi, hiệu quả hơn. Kiểm soát quyền lực nói chung và kiểm soát quyền lực của người đứng đầu nói riêng ở nước ta hiện nay đang là vấn đề được Đảng, Nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm ở cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Bài viết đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy “mục tiêu kép” kiểm soát quyền lực gắn với phát huy vai trò của người đứng đầu trong các cơ quan, tổ chức quyền lực ở Việt Nam hiện nay.
Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phù hợp với quy luật và thực tiễn 21/09/2022
CT&PT - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phản ánh tính phổ biến (quy luật) vì trong mọi nhà nước dân chủ đều thể hiện rõ vai trò chi phối của đảng chính trị trong hầu hết các hoạt động và tổ chức của nhà nước. Nó phản ánh điều kiện chính trị trong nước: Đảng Cộng sản Việt Nam có quá trình gắn bó máu thịt với nhân dân, với dân tộc qua cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vai trò lãnh đạo của Đảng được cả dân tộc thừa nhận và suy tôn.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, góp phần kiểm soát quyền lực và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước 12/09/2022
CT&PT - Cùng với các chức năng lập hiến, lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước thì giám sát tối cao của Quốc hội có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong cơ chế tổ chức, vận hành, thực thi và kiểm soát quyền lực của nhà nước. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang 76 năm qua, quán triệt sâu sắc Cương lĩnh, quan điểm, đường lối của Đảng, trước yêu cầu nhiệm vụ phát triển đất nước thời kỳ mới, Quốc hội tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, cách làm để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát tối cao.